Chống dạy thêm học thêm tràn lan...thực chất?

By Trần Hà Nam

Sắp đến mùa luyện thi nóng bỏng vào các cấp: lớp 10 Đại học...
Và cũng như bao nhiêu giáo viên tôi cũng đang đứng trước câu hỏi: dạy hay không dạy?
Một điều đã từ lâu trở thành qui định của Sở Giáo dục - Đào tạo Bình Định: cấm dạy thêm học thêm tràn lan! Và tất cả giáo viên sẽ không được phép tự đứng ra tổ chức dạy thêm cho học sinh. Tất cả các học sinh có nhu cầu chỉ được phép đến học tại các trung tâm luyện thi! Nhưng một điều mà tất cả các giáo viên tham gia dạy luyện thi đều cảm thấy rõ ràng: cấm thì cấm nhưng nhu cầu học thêm rất lớn buộc giáo viên cũng phải tìm cách dạy thêm cải thiện cuộc sống của mình. Một nghịch lý: thầy giỏi chưa chắc đã dạy được vì không chen chân vào trong trung tâm. Có trung tâm có chất lượng thì vẫn vắng như chùa Bà Đanh vì địa điểm học không thuận lợi. Ngành Giáo dục cũng chỉ có quyền hạn cấm những giáo viên đương chức còn các cá nhân không thuộc biên chế giáo dục có luyện thi thì cũng chỉ đứng ngó! Vả lại phụ huynh gửi con cho những người không phải giáo viên dạy cũng yên tâm không bị bắt!
Nghịch lý tồn tại khiến một số trường một số giáo viên nghĩ ra các chiêu để lách lệnh của Giám đốc Sở:
- Mở lớp phụ đạo cho học sinh (cháu nào không đi thì điểm số kém hẳn! Con tôi đang học lớp 9 là một ví dụ).
- Mở lớp bồi dưỡng thu tiền dạy ở trường cháu nào không học bồi dưỡng dù có giỏi cũng không được dự thi học sinh giỏi.(ngoại trừ ở trường chuyên còn ở cá trường ngoài những việc này đều xảy ra lác đác)
Trường thường thì như vậy. Trường chuyên thì dù được lập trung tâm nhưng cũng chỉ hạn chế trong cấp dạy của mình không được dạy tạo nguồn như kiểu của trường chuyên Trần Phú Hải Phòng (dạ ytừ lớp 8). Thế nhưng ngay cả cán bộ Sở biết giáo viên trường chuyên không được dạy kèm thi vào 10 nhưng vẫn đến giáo viên đề nghị dạy thêm cho cháu để vào chuyên vào 10! Lớp nào nhóm được mà có con các quan chức Sở thì yên tâm không bị bắt!
Nghịch lý! Chợt nhớ câu thơ Thanh Thảo:
nhìn thôi sao thấy không vui!
Sao Sở không cho phép các giáo viên giỏi được dạy thêm theo nhu cầu của phụ huynh khiến giáo viên dạy cho các cháu cứ nơm nớp lo bị bắt bị bêu xấu như tội đồ! Giáo viên cấp THPT không được luyện thi lớp 9 vào 10 nhưng năm nào phụ huynh cũng tìm cách gửi con cho thầy cô trường chuyên để học. Chẳng lẽ giáo viên THPT không thể dạy học sinh trình độ THCS? Một số Sở một số địa phương vẫn tạo điều kiện cho các giáo viên giỏi được sống làm thêm bằng chính khả năng của mình cơ mà!
Nên tốt nhất là đành từ chối dạy thêm sống thanh bạch cho khỏi nhục! Chờ đợi may ra Sở mình có cách nhìn thoáng hơn chăng?

More...

Ghi chép từ cuộc họp góp ý chương trình và sách giáo khoa

By Trần Hà Nam

Hội đồng giáo dục trường THPT chuyên Lê Quý Đôn đã họp và báo cáo tổng hợp những nhận xét về chương trình và sách giáo khoa THPT qua 2 năm thực hiện phân ban. Sau đây là một số ghi chép tổng hợp về các bộ môn:
1. Môn Toán: Đề nghị tăng thời lượng 25 phần trăm . Đơn vị bài giữ nguyên và  cần tăng thời lượng bài tập vi 2 3 tiết lý thuyết mới có 1 tiết bài tập.
2. Môn Lý:  Ưu điểm là chương trình cập nhật tuy nhiên lượng kiến thức nhiều nhưng số tiết ít. Sách inđẹp nhưng còn sai kiến thức.
3. Công nghệ (KTCN): Hạn chế là lý thuyết và thực hành không logic. Thiếu sách tham khảo.
4. Hoá: Thời lượng ít nên hiệu quả không cao một số nội dung sơ sài nên đưa vào chương trình đọc thêm. Một số nội dung trong sách giáo khoa thiếu chính xác.
5. Sinh: Chương trình logic hợp lý. Phù hợp trình độ học sinh. Sách giáo khoa đẹp rõ. Hạn chế: một số sơ đồ không rõ.
6. Công nghệ (KTNN): Một số bài cần giảm tải vì không thiết thực như bài Kinh doanh và doanh nghiệp.
7. Thể dục: một số nội dung không thể đáp ứng do cơ sở vật chất không cho phép. Thời lượng môn đá cầu ít. Bài nhảy cao nằm nghiêng không thiết thực vì thực tế nhảy lưng và bụng thành tích cao hơn.
8. Văn: chương trình ưu là có sự tích hợp. Hạn chế lớp 10 phần VH viết quá nặng nề. Sách giáo khoa hạn chế ở lượng kiến thức quá lớn cần giảm tải. Thời lượng chương trình cchưa cân đối giữa học và đọc thêm.
9. Sử: Hạn chế thiếu tiết ôn tập. Thời gian bố trí ôn không hợp lý. Kiến thức sai bỏ triều đại không có hệ thống thiếu giải thích. Tranh hình bị cắt rất nhiều. Câu hỏi và bài tập nhiều khó. Thời lượng ít.
10. Công dân: cập nhật kiến thức triết học. Tuy nhiên có kiến thức nặng khó phải tra cứu.
11. Địa: Hạn chế là kiến thức nhiều nội dung bài chưa hấp dẫn. Khó chuyển tải trong 1 tiết học.
12. Anh Văn: kiến thức hiện đại sát thực tiễn đáp ứng yêu cầu học sinh.
13. Tin học: ThuẬT toán nên đưa vào chương trình 11 vì học sinh dễ quên.
* Khảo sát các môn ở học sinh: phần lớn các môn học sinh có khoảng 75 phần trăm nắm được bài (!)

More...

Bài 3: Ý kiến về SGK Ngữ Văn chương trình phân ban

By Trần Hà Nam

Trước hết cần xác định xem có đúng là có sách giáo khoa phân ban đúng nghĩa hay không?

Từ thực tế của 2 năm học sách giáo khoa phân ban (lớp 10 và 11) học sinh chủ yếu sử dụng bộ sách giáo khoa Ngữ Văn cơ bản vì hầu hết các trường đều chọn giải pháp học ban cơ bản ban khoa học tự nhiên. Hai ban này tất yếu phải học Ngữ Văn theo Sách giáo khoa bộ cơ bản (CB). Còn lại có một tỷ lệ rất ít theo ước tính xác suất của chúng tôi khoảng chưa tới 10% là học ban khoa học xã hội sử dụng sách Ngữ Văn nâng cao. Một sự chênh lệch làm tổn thương những ai yêu mến và muốn khẳng định vị trí của bộ môn giàu tính nhân văn này trong nhà trường phổ thông. Một câu hỏi đặt ra: với tỷ lệ chênh lệch quá lớn như thế liệu có còn tồn tại cái gọi là phân ban trong nhà trường phổ thông hay không? Có phải rằng nhu cầu xã hội sau này thiên về các môn khoa học tự nhiên theo tỷ lệ mà Ban KHXH quá thảm hại so với Ban KHTN và Ban cơ bản đang diễn ra trong trường phổ thông? Chúng tôi xin nói thẳng: chúng ta đang né tránh một sự thật về sự phá sản của chương trình phân ban. Một dự án tốn bao nhiêu tỷ đồng của nhà nước nhưng không góp phần điều chỉnh nhu cầu lao động ngành nghề trong tương lai cho học sinh gây lãng phí lớn!

Vấn đề tiếp theo chúng tôi xin đưa tra một số nhận xét về sách giáo khoa đã được sử dụng cho hai khối 10 và 11 trong hai năm học vừa qua cho Ban Cơ bản và Ban Khoa học tự nhiên (vì ảnh hưởng trực tiếp đến đại đa số học sinh hai khối này).

Ở bộ CB 10 phần Văn bắt đầu là bài Tổng quan văn học Việt Nam và sau đó là bài Khái quát văn học dân gian Việt Nam. Nhưng ngay sau đó trong các bài trích cụ thể sau trích đoạn Đam Săn tự dưng nhảy vào chễm chệ hai trích đoạn sử thi Ô-đi-xê Ramayana trong hàng loạt các tác phẩm sắp xếp theo thể loại của văn học dân gian Việt Nam. Chúng tôi không hiểu là việc đưa hai tác phẩm đó có giúp học sinh liên hệ so sánh thể loại để tự hào về các thể loại đặc trưng của dân tộc hay không? Hay đưa vào để so sánh thể loại cho tiện tay? Vì nếu như so sánh để hiểu đặc trưng thể loại tại sao không chọn lọc đưa vào tiếp các truyện cười truyện ngụ ngôn ca dao đặc sắc của thế giới? Hay chỉ có thể loại sử thi là đáng sánh tầm thế giới mà thôi? Tương tự sang phần văn học viết sau bài Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX là các bài thơ Đường luật của Phạm Ngũ Lão Nguyễn Trãi Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Du. Sau đó đột ngột nhảy vào bài Thơ Đường và hai tác phẩm của Lý Bạch Đỗ Phủ. Tiếp đến lại là bài Phú sông Bạch Đằng  của Trương Hán Siêu rồi lại vòng sang giới thiệu ông Nguyễn Trãi mới tiếp tục Đại cáo Bình Ngô (ông Nguyễn Trãi đặt lọt vào giữa hai đứa con tinh thần!). Rồi sau đó lại là ba tác phẩm văn xuôi chữ Hán của các tác giả Việt Nam lại tiếp tục nhảy vào ông La Quán Trung bên Tàu với trích đoạn Tam quốc diễn nghĩa. Vậy thì đề cao thể loại trong văn học Việt Nam hay là tiện tay thì so sánh với đệ nhất đại kỳ thư Trung Hoa vậy thôi? Theo chúng tôi đã so sánh thì so sánh toàn diện còn không thì giới thiệu văn học nước ngoài thành một phần riêng như cấu tạo sách giáo khoa cũ để khỏi có cảm giác cực kỳ khó chịu khi giảng dạy! Hai thể loại đặc trưng của văn học dân tộc được giới thiệu sau cùng là ngâm khúc và truyện thơ thì cũng chỉ có một trích đoạn Chinh phụ ngâm và sau bài về tác gia Nguyễn Du là ba trích đoạn Truyện Kiều. (ông Nguyễn Du cũng bị y như ông Nguyễn Trãi). Thứ tự thời gian bị đảo lộn làm cho giáo viên cảm thấy lúng túng vì không tránh khỏi lặp lại kiến thức và củng cố kiến thức lịch sử văn học cho học sinh.

Ở bộ CB 11 tình hình cũng không khá hơn. Học sinh lại quay về với thể Đường luật với các cụ Nguyễn Khuyến Tú Xương. Thực chất 7 bài đầu tiên không có thể loại nào được sắp xếp tử tế: Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác hát nói Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ quay lại truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc cũng của cụ (Nguyễn Đình Chiểu và Nguyễn Khuyến sắp xếp đảo lộn và bị loại ra không được tính là tác gia văn học như sách cũ). Từ văn học trung đại sang văn học cận hiện đại là sự chuyển tiếp đột ngột bằng cách sau hai bài Ôn tập văn học trung đạiKhái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945 là học ngay một loạt truyện ngắn giai đoạn 1932 – 1945. Rồi kết lại phần tập 1 là kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và lại đưa Romeo và Juliet của Sêc-xpia (chắc là để so sánh). Chạy hết tập 1 sang tập 2 của bộ cơ bản lúc bấy giờ mới thấy xuất hiện …thơ Đường luật của Phan Bội Châu bài Hầu Trời của Tản Đà (được xem là cầu nối hai thời đại văn học) theo chúng tôi Tản Đà phải học bài Thề non nước mới đúng! Sau đó là một loạt thơ lãng mạn và cách mạng từ 1930 – 1945 và một loạt các tác phẩm văn học nước ngoài (chiếm phần lớn thời gian học ở học kỳ II). Những giáo viên đứng lớp chắc chắn có cảm giác như người đang chạy tiếp sức sực nhớ quên…cầm gậy chạy về rồi cắm cổ chạy tiếp!!! Cái cảm giác mệt mỏi vì phải tiếp xúc với một rừng thể loại bơi giữa biển tác giả làm chính giáo viên cũng mỏi mệt còn nói gì đến học sinh.

Cả hai bộ sách giáo khoa cơ bản 10 và 11 đều hoàn toàn vứt bỏ tính hệ thống tính chỉnh thể tính khoa học tính lịch sử của văn chương qua đó gián tiếp thủ tiêu sức mạnh nhân văn của tác phẩm trong thời đại. Tác giả thoắt ẩn thoắt hiện học sinh lúc ở Việt Nam lúc ra thế giới. Riêng phần Văn thôi đã thấy choáng váng! Khi chúng tôi được tập huấn học thay sách xem băng dạy học mẫu đã thấy cảnh tan nát của một giờ văn nhưng như đạn đã lên nòng thì phải bắn còn trúng đích không thì…chờ đã! Các bài phần Văn đan xen với hàng loạt kiến thức về Tiếng Việt Làm Văn theo tinh thần tích hợp xem ra chỉ làm cho cả thầy và trò như bơi trong một biển chữ với kho kiến thức cực kỳ hàn lâm nhưng xem ra hiệu quả không bao nhiêu. Trên một trang điện tử của Bộ từng có bài than phiền 90% học sinh không hiểu bài môn Ngữ Văn phân ban thí điểm đến khi phân ban đại trà tình hình cũng chẳng khá hơn!

Xem ra chuyện chương trình và sách giáo khoa môn Ngữ Văn phân ban còn là chuyện dài nhiều tập vì năm học tới còn phải tiếp tục học bộ Ngữ Văn 12 cơ bản và nâng cao rồi mới có cơ sở kết luận cuối cùng qui trách nhiệm cụ thể. Tham nhũng bị phát hiện thì ở tù lãng phí thì bị lên án. Còn lãng phí khổng lồ cho dự án phân ban mà không đạt hiệu quả không biết có ai phải chịu trách nhiệm chính? Nhưng hậu quả là học sinh học văn càng lúc càng kinh hoàng thậm chí thế hệ 9X có những bài văn vượt rào khi tha hồ tưởng tượng chuyện Mị Châu làm quản trị Net và Trọng Thủy thành cao thủ Võ lâm online và sáng tạo ra đủ thứ ngôn ngữ kỳ quái trên mạng thì không có nhà ngữ pháp nhà nghiên cứu nào lường được! Học trò thì có dịp vui vì không phải học những bài văn gò vào thể loại trong trường lớp! Sợ thay!

                                                            Trần Hà Nam

More...

Bài 2: Những bất hợp lý trong chương trình

By Trần Hà Nam

Chương trình Ngữ Văn THPT được cấu tạo trên tinh thần tích hợp bảo đảm sự liên thông từ cấp THCS đến THPT. Thế nhưng bên cạnh cấu tạo được trình bày trong cấu trúc tương đối bảo đảm theo trình tự từng phân môn Tiếng Việt - Làm Văn thì phần Văn học bị xé lẻ nhiều và chưa thật sự có tính thuyết phục. Việc đưa các loại văn thuyết minh văn nhật dụng vào chương trình có ích nhưng có phù hợp mặt bằng chung của học sinh hay không còn là cả một vấn đề!
Theo quan niệm của chúng tôi việc sắp xếp học tập các bài theo cấu trúc thể loại là một cấu tạo chương trình bất hợp lý và có hại nhiều hơn có lợi. Bởi lẽ sắp xếp như vậy không đáp ứng nhiều cho việc nâng cao trình độ học môn Ngữ Văn - một bộ môn đặc thù nâng cao kiến thức và bồi đắp tâm hồn cho học sinh. Rèn luyện kỹ năng kỹ xảo viết văn cho học sinh không có nghĩa là đưa một dung lượng kiến thức quá nặng một sự sắp xếp cứng nhắc theo thể loại. Trừ phần văn học dân gian các thể loại sắp xếp tương đối hợp lý và đúng tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân gian thì sang phần văn học viết cách sắp theo thể loại bộc lộ những điểm bất hợp lý!
1. Bất hợp lý trong việc cho học sinh tiếp cận tác phẩm từ văn học trung đại đến văn học hiện đại mà không cung cấp cho các em những hiểu biết cần thiết về hoàn cảnh ra đời vị trí tác phẩm trong tiến trình lịch sử văn học. Dù rằng trong phần câu hỏi hướng dẫn học bài (Đọc - hiểu văn bản) có những gợi ý nhưng chủ yếu là tập trung khai thác vào nội dung văn bản. Giáo viên rất nhàm chán khi phải dạy liên tục một thể loại. Cũng vì theo cách chú trọng thể loại này mà có tác giả bị cắt ra đến 2- 3 phần 2 khối lớp!
2. Chương trình coi nhẹ văn học sử và có kiểu cấu tạo khá lạ lùng: sinh con rồi mới sinh cha! Nghĩa là đứa con tinh thần của các nhà văn được giới thiệu trước sau đó mới có bài về người cha của nó ở phía sau với điều kiện phải là tác gia nổi tiếng. Còn không hầu hết các tác phẩm văn học được giới thiệu một cách hết sức sơ sài lý lịch nhiều chỗ khiến học sinh cảm thấy mù mờ! Dạo này dư luận đang lên tiếng báo động 

về tình trạng học sinh kém về lịch sử thờ ơ với lịch sử nhưng mới chủ yếu tập trung vào các giáo viên và chương trình sách giáo khoa môn Lịch sử mà quên không đả động đến môn Ngữ Văn. Chính những người chủ trương dạy học theo thể loại quá chú trọng văn bản trên tinh thần chủ nghĩa hình thức du nhập từ phương Tây cố chứng minh sự phát triển văn học là sự phát triển thể loại mà quên mất đây còn là bộ môn bồi đắp tình cảm yêu nước cung cấp những vẻ đẹp tinh thần của thời đại một cách sinh động nhất. Học sinh tập trung vào văn bản không biết rõ về thời đại về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm một cách thấu đáo từ đó học văn bản máy móc xơ cứng vô hồn! Tình trạng sai nhầm ú ớ về lịch sử có liên quan đến tác phẩm là phổ biến. Ngay cả những văn bản chính luận văn nhật dụng văn thuyết minh khi ứng dụng thì các em cũng tỏ ra rất ngô nghê. Vì chương trình hoàn toàn không có những bài khái quát về thời kỳ giai đoạn văn học như trước kia cũng chẳng cần quan tâm đến đội ngũ thế hệ nhà văn các cây bút tiêu biểu của một khuynh hướng văn học nào chẳng cần biết đặc điểm nổi bật của văn học giai đoạn đó là gì vì không có trong chương trình! Kết quả là mù sử dẫn đến dốt văn thầy cô có giỏi mấy cũng không thể khơi được ngọn lửa yêu văn chương cho các em vì chương trình không dành thời lượng cung cấp những kiến thức như vậy!

3. Chương trình môn Ngữ Văn không hề liên quan đến chương trình lịch sử là một điều bất hợp lý. Trước kia các thế hệ cha ông từng quan niệm “văn - sử - triết bất phân” cũng có nhân tố hợp lý! Vì vậy khi học chương trình cũ học sinh không mấy khi bị ngỡ ngàng khi tiếp thu văn chương vì có bổ sung từ môn Lịch sử và môn Chính trị. Còn bây giờ một học sinh giỏi môn Văn ở THCS khi tôi hỏi về kiến thức lịch sử liên quan tới bài văn thì thản nhiên trả lời không biết vì chưa học trong môn Lịch sử. Thời tôi đi học dù có tách các môn Văn - Sử - Đạo đức ra riêng thì vẫn có thể hào hứng dùng Văn nhớ Sử dùng Sử nhớ Văn hoặc liên hệ những bài học Đạo đức từ văn chương! Còn theo chương trình mới sẽ có những robot nhớ kỹ sự kiện lịch sử lại không hề có ý thức liên hệ với văn với giáo dục công dân. Và ngược lại giỏi Văn là giỏi lặp lại thầy chứ không hề được trang bị những kiến thức bổ trợ từ các môn học khác. Mạnh thầy của môn nào soạn môn đấy đó cũng là lý do nhiều giáo viên Văn có kinh nghiệm buộc phải lấn sân lịch sử giáo dục công dân và tương tự : thầy Sử giỏi đọc Văn cô Công Dân giỏi đọc thơ! Nhưng lại vi phạm qui định chương trình vì mỗi tiết chỉ 45 phút bài dài cũng chỉ 2 tiết!

4. Chương trình và sách giáo khoa còn có những điểm bất cập và kết quả là giáo viên dạy cấp học khối học nào cũng đều phải lãnh đủ chất lượng học tập bộ môn sa sút dần. Những điều này thiết tưởng không cần nêu những ví dụ chứng minh vì ai đã đứng trên bục giảng đều cảm thấy thấm đòn nhưng đành phải hoàn thành chương trình theo chỉ đạo từ trên xuống mà ít ai kêu ca hoặc có kêu cũng chẳng ai sửa!
Đón đọc phần 3: Những điều trông thấy từ Sách giáo khoa Ngữ Văn

More...

Bàn về chương trình và sách giáo khoa môn Ngữ Văn

By Trần Hà Nam

Bài 1: Sự thay đổi sách và chương trình chóng mặt...
    Những suy nghĩ tản mạn qua tiếp xúc với chương trình và sách giáo khoa môn Ngữ Văn (gọi một cách đầy đủ theo đúng tinh thần của cải cách giáo dục) ngẫm nghĩ đến đâu giãi bày đến đó! Đây là ý kiến của một người đã gắn bó với việc giảng dạy bộ môn mới vỏn vẹn 14 năm. Mong có nhiều đồng nghiệp cùng trao đổi!
    Là một người đã từng học môn Văn theo chương trình cũ khi ra trường cũng là lúc chúng tôi chứng kiến sự chuyển động của bộ môn bằng việc sinh viên khi ra trường được triệu tập để học chương trình cải cách. Đó cũng là lần đầu tiên sinh viên chúng tôi tiếp xúc văn học lãng mạn theo tinh thần cởi mở hơn được sống say sưa với những cảm xúc trinh nguyên khi khám phá khu vườn thơ của Hàn Mặc Tử Nguyễn Bính Thâm Tâm Xuân Diệu... để được biết một khuynh hướng văn học lãng mạn không "suy đồi và bạc nhược" như chúng tôi từng học 2 tiết trong trường phổ thông. 
    Đến khi đi dạy học tôi cũng say sưa khám phá những vẻ đẹp khác lạ của văn học kháng chiến chống Pháp với Bên kia sông Đuống Tây Tiến gắn liền với các tên tuổi Hoàng Cầm Quang Dũng biết một Vợ nhặt của Kim Lân văn học kháng chiến chống Mỹ với Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu Sóng của Xuân Quỳnh Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm đoạn trích tiểu thuyết Cửa Biển của Nguyên Hồng Huệ Chi đêm tân hôn (sau đổi là Huệ Chi trước lễ cưới)...thế nhưng cũng cảm thấy hụt hẫng khi có những điều chỉnh trong chương trình khi có một số tác giả không được học như Nguyễn Bính Lưu Trọng Lư... ở chương trình 11. Phần văn xuôi Tự lực Văn đoàn chỉ có Thạch Lam đại diện là quá ít ỏi.  Riêng nhà thơ Tố Hữu một tác giả khá quen thuộc ở mọi lớp hồi tôi đi học thì cũng chỉ chọn 3 tác phẩm là vừa phải. Sau năm 1997 Tuyên Ngôn Độc lập được đưa vào chương trình Văn là một điều chỉnh cần thiết nhưng lại loại bỏ bằng một bài khái quát về tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và khái quát văn học 45 - 75 dở hơn bài cũ! Bằng cảm tính chúng tôi đã lờ mờ nhận ra có điều bất ổn trong cách cải cách môn Văn. Tiếp đến thời điểm năm học 2000 - 2001 lại đánh dấu một sự thay đổi tiếp theo bằng việc ra bộ sách giáo khoa Văn học chỉnh lý hợp nhất mà chủ yếu là cách chọn theo tỷ lệ 50/50 từ hai bộ sách. Vài năm sau đó cùng với những chuyển động của chương trình và sách giáo khoa cấp THCS một xu hướng tiếp cận mới với tên gọi bộ môn thay đổi: Ngữ Văn đã buộc sách giáo khoa THPT từ năm 2006 - 2007 cũng chuyển động theo để đúng tinh thần tích hợp! Và năm học 2008 - 2009 sẽ khép lại chu trình bằng việc ra mắt bộ Ngữ Văn 12. Cùng với những thay đổi về chương trình và sách giáo khoa là định hướng phân ban mà cho đến nay nhiều giáo viên vẫn còn phải chật vật với những thay đổi mới mẻ này!
    Ngỡ rằng một dự án cải cách tiến hành nhiều năm sẽ đem lại một tinh thần mới cho bộ môn Ngữ Văn nhưng thực tế không phải vậy. Tôi chỉ trình bày vấn đề từ thực tế của một giáo viên tiếp xúc với chương trình và sách giáo khoa Ngữ Văn hiện nay để mong góp một tiếng nói nhỏ bé vào việc nhận xét đánh giá chương trình và sách giáo khoa những ý kiến mà nếu chỉ ghi trong một tờ phiếu nhận xét và đánh giá e rằng không thể  nói hết!
Đón đọc phần 2: Góp ý về chương trình Ngữ Văn hiện nay

More...

Bình giảng: Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo)

By Trần Hà Nam


Thanh Thảo 

ĐÀN GHI TA CỦA LORCA

                        Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn ghita

                                                * F.G. Lorca

những tiếng đàn bọt nước

Tây-Ban-Nha áo choàng đỏ gắt

li-la li-la li-la

đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chếnh choáng

trên yên ngựa mỏi mòn

Tây-Ban-Nha

hát nghêu ngao

bỗng kinh hoàng

áo choàng bê bết đỏ

Lorca bị điệu về bãi bắn

chàng đi như người mộng du

tiếng ghi-ta nâu

bầu trời cô gái ấy

tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy

tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan

tiếng ghi-ta ròng ròng

máu chảy

không ai chôn cất tiếng đàn

tiếng đàn như cỏ mọc hoang

giọt nước mắt vầng trăng

long lanh trong đáy giếng

đường chỉ tay đã đứt

dòng sông rộng vô cùng

Lorca bơi sang ngang

trên chiếc ghi-ta màu bạc

chàng ném lá bùa cô gái di-gan

vào xoáy nước

chàng ném trái tim mình

vào lặng yên bất chợt

li-la li-la li-la...

                        (Khối vuông Rubic – NXB TPM – 1985)

Đất nước Tây Ban Nha xinh đẹp với những trận đấu bò rực lửa với tiếng ghi ta say lòng đã đi vào trong thơ của Garcia Lorca nhà thơ nhân dân người chiến sĩ chống phát xít. Sự hy sinh anh dũng của ông trước họng súng của bọn phát xít Franco đã để lại nhiều tiếc thương cho nhân dân Tây Ban Nha. Sức ám ảnh của những bài thơ đầy chất lãng tử của người nghệ sĩ Tây Ban Nha ấy đã gặp gỡ với hồn thơ Thanh Thảo làm nên bài thơ độc đáo Đàn ghi ta của Lorca trong tập thơ Khối vuông rubic.

             Trước hết cần phải thấy không phải ngẫu nhiên mà Thanh Thảo lại chọn hình tượng đàn ghi ta gắn với giây phút cuối cùng của F.G.Lorca. Bởi lẽ người chiến sĩ này đã dùng tiếng ghi ta cất lên lời ca tranh đấu chống lại chủ nghĩa phát xít. Đàn ghi ta là tâm hồn Lorca là khí phách kiên cường của những người chiến sĩ yêu tự do hòa nhịp trái tim mình với quần chúng nhân dân. Bởi vậy nỗi xúc động của Thanh Thảo làm nên cảm hứng của bài thơ cũng bắt đầu từ câu thơ của Lorca: “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn ghi ta”.

            Viết về một nhà thơ hiện đại một người con của đất nước Tây Ban Nha Thanh Thảo đã dựng nên một chân dung bằng thơ sống động. Không gian mở đầu bài thơ là những biểu tượng đặc trưng của văn hóa xứ sở những trận đấu bò hiện hữu tất cả chất say phóng cuồng nghệ sĩ:

những tiếng đàn bọt nước

Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt

li-la li-la li-la

đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chếnh choáng

trên yên ngựa mỏi mòn...

Cái độc đáo của bài thơ này chính là ở những thủ pháp hiện đại mà hình ảnh không hề cầu kỳ xa lạ vẫn giúp người đọc hình dung chất Tây Ban Nha không trộn lẫn. Thanh Thảo có lối diễn đạt câu thơ không viết hoa đầu dòng tạo mạch thơ liên tục xâu chuỗi với nhau để nối kết các biểu tượng đầy sức ám ảnh : đất nước của những làn điệu ghi ta – Tây Ban cầm của áo choàng matador - đấu sĩ của những giấc mơ hiệp sĩ của chàng Đôn Kihôtê đã cuốn hút người đọc bằng chất men say chếnh choáng cả vầng trăng. Không chỉ có thế ghi ta của chàng nghệ sĩ còn vang những âm điệu rất lạ « li-la li-la li-la » gọi về sắc tím của hoa tử đinh hương âm thanh và màu sắc hoà quyện dìu dịu vẻ đẹp của một nỗi buồn trữ tình. Bài thơ cuốn người đọc vào cái âm hưởng li-la ngân mãi không dứt ấy. Đó cũng là những gì đã xuất hiện trong thơ Lorca ca ngợi một đất nước Tây Ban Nha tươi đẹp và hào hiệp với khát vọng công lý tự do.

Tây Ban Nha của thời Lorca còn là đất nước sôi sục những cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít ghi ta của Lorca cất lên lời ca tranh đấu :  «Ghi ta bần bật khóc – Không thể nào - dập tắt » (thơ Lorca). Bởi vậy diễn tả khoảnh khắc người chiến sĩ ấy bị bọn phát xít sát hại  Thanh Thảo cũng đã dựng nên bầu không gian kinh hoàng những ấn tượng chết chóc : Tây Ban Nha hát nghêu ngao - bỗng kinh hoàng –áo choàng bê bết đỏ-Lorca bị điệu về bãi bắn – chàng đi như người mộng du…Những câu thơ tiếp nối diễn tả tột cùng cho cảm giác đau đớn uất nghẹn trước sự tàn bạo của bọn độc tài phát xít :

tiếng ghi ta nâu

bầu trời cô gái ấy

tiếng ghi ta lá xanh biết mấy

tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan

tiếng ghi ta

ròng ròng máu chảy…

Điệp khúc dồn dập qua nhịp thơ Thanh Thảo như đã lột tả được cái bàng hoàng căm phẫn trong bản ghi ta bi tráng! Màu nâu của đất của làn da rám nắng màu xanh của lá của bầu trời như tương phản gay gắt và dữ dội với màu đỏ ròng ròng máu chảy. Cảm giác vỡ oà đau đớn uất nghẹn trong tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan. Nỗi kinh hoàng trong cảm giác mất mát cũng nhân lên gấp bội nỗi đau như xé lòng khi hình dung ra cảnh kẻ thù sát hại người nghệ sĩ tranh đấu cho tự do.

Những câu thơ tiếp theo như đặc tả cho một sự sống khác mãnh liệt âm thầm mà bất tử :

không ai chôn cất tiếng đàn

tiếng đàn như cỏ mọc hoang

giọt nước mắt vầng trăng

long lanh trong đáy giếng

Đoạn thơ tái hiện khoảnh khắc kẻ thù của Lorca hèn hạ thủ tiêu chàng ném xác xuống giếng  nhưng qua hình tượng âm thanh tiếng đàn ta nhận ra một sức sống mãnh liệt vẫn tiếp tục. Cảm giác bi tráng hiện hữu qua những liên tưởng về cỏ mọc hoang giọt nước mắt vầng trăng đáy giếng tạo cảm giác trống vắng sau sự hy sinh anh dũng của Lorca. Thanh Thảo rất có ý thức khi so sánh tiếng đàn với cỏ mọc hoang để cảm nhận về sức lan toả của sự sống mãnh liệt không gì có thể hủy hoại được. Có khoảng lặng sau ánh sáng vầng trăng nhưng đủ diễn tả nỗi tiếc thương long lanh trong đáy giếng nơi kẻ thù tưởng có thể vùi chôn tinh thần tự do bất tử của Lorca.

Vì lẽ đó những câu thơ Thanh Thảo đã tái hiện sự sống của Lorca thật kỳ diệu và xúc động con người đã hoá thân vào âm thanh của đàn ghi ta tan chảy hoà cùng dòng sông bất tận:

Lorca bơi sang ngang

Trên chiếc ghi ta màu bạc

Chàng ném lá bùa cô gái di gan

Vào xoáy nước

Chàng ném trái tim mình

Vào lặng yên bất chợt

li-la li-la li-la...

Những câu thơ diễn tả một hành trình đối mặt với định mệnh của người nghệ sĩ tài hoa người Tây Ban Nha như một thái độ bình thản trước số phận. Lá bùa - định mệnh trái tim lặng yên để làm nên một sự sống trường tồn vượt qua và vút lên vang động khắp không gian. Khúc đàn tự do ấy lại vang lên : li-la li-la li-la... Tiếng đàn mang tên loài hoa theo tiếng Tây Ban Nha như một sự sống lặng lẽ toả hương hiện hữu giữa cuộc đời. Hai lần Thanh Thảo dùng động từ ném để diễn tả nhằm làm nổi bật lên vẻ đẹp của con người từ lâu dám coi khinh cái chết bởi cái chết do kẻ thù gây ra cũng không thể ngăn cản tư tưởng tâm hồn Lorca hoà vào với sự sống bất tử của nhân dân.

Đàn ghi ta của Lorca là một bài thơ hay của Thanh Thảo không chỉ đã tạo dựng chân dung người nghệ sĩ - chiến sĩ Garcia Lorca một cách trung thực mà còn khiến người đọc cảm nhận rõ vẻ đẹp tâm hồn tính cách đậm chất Tây Ban Nha của Lorca. Bài thơ giàu nhạc điệu ngỡ như chính tác giả đã để lòng mình đồng điệu với sự sống Lorca trong giờ phút đối mặt với họng súng quân thù.

Tiếng đàn ấy sức sống ấy vẫn ngân vang những tiếng li-la li-la li-la để hiện hữu sống động hình ảnh một Lorca với chiếc ghi ta màu bạc vẫn rong ruổi trên hành trình dân tộc Tây Ban Nha hát lên bài ca tranh đấu bài ca tình yêu sự sống. Phút gặp gỡ của nhà thơ Việt Nam Thanh Thảo với Lorca đã làm nên một bài thơ còn nóng hổi hơi thở cuộc sống hiện đại ca ngợi người chiến sĩ trong đội ngũ đấu tranh vì tự do công lý quyết không cúi đầu trước các thế lực bạo tàn./.

Trần Hà Nam

More...

Suy nghĩ trước thềm Đại hội VHNT tỉnh Bình Định

By Trần Hà Nam

Đọc thông tin từ trang CLB Xuân Diệu về Đại hội VHNT tỉnh Bình Định cảm thấy vừa vui vừa buồn vừa giật mình!
1. Vui: Cuối cùng thì Đại hội cũng đã được ấn định ngày tổ chức!
2. Buồn: Vì mọi thông tin của Đại hội dường như có những điều rất khó hiểu từ việc tổ chức điều hành dự kiến nhân sự diễn ra có vẻ vô cùng bí mật. Buồn hơn là các chi hội không được tổ chức họp để đề xuất về mặt nhân sự tham gia Ban chấp hành mới. Buồn vì mọi ý kiến khiếu kiện về mặt nhân sự phải diễn ra trước đại hội 15 ngày mà thông tin này chỉ công bố vỏn vẹn trước 1 tuần. Nghĩa là về mặt nguyên tắc BCH đặt anh em hội viên vào thế đã rồi! Nghĩa là xét theo tiêu chí dân chủ và công khai thì hoàn toàn thiếu dân chủ. Buồn vì trong gương mặt đoàn chủ tịch vẫn là những gương mặt hoàn toàn cũ của nhiệm kỳ Đại hội trước không có một gương mặt nào mới báo trước mọi việc cũng vẫn như cũ.
3. Giật mình: Danh sách nhân sự đưa ra đề cử vào BCH gồm 11 nhân vật của BCH cũ tiếp tục được chính BCH tín nhiệm đưa ra bên cạnh một số gương mặt mới: Lê Hoài Lương Đào Tiến Đạt Trần Quang Lộc Phạm Ánh. Giật mình vì thử làm một phép thống kê để thấy:
- Có một cặp vợ chồng: Nguyễn Thanh Mừng (CT Hội) - Trần Huyền Trang
- Có 1 hội viên chi hội sân khấu: Hoàng Ngọc Đình (PCT đương nhiệm)
- Có 1 người đại diện của chi hội Văn học dân gian: Nguyễn Xuân Nhân
- Có 1 người đại diện văn học dân tộc: Yang Danh
- Có 2 người đại diện chi hội nghệ sĩ tạo hình: Nguyễn Chơn Hiền - Nguyễn Quốc Hùng (thường trực Hội cũ)
- Có 2 người chi hội Nhiếp ảnh: Đào Tiến Đạt - Ngọc Lối
- Có 1 người đại diện chi hội âm nhạc: Nguyễn Hữu Thuần
- Còn lại là 5 người là hội viên chi hội Văn học:  Lê Hoài Lương Mai Văn Thìn Trần Quang Lộc Đào Quý Thạnh Phạm Ánh.
Trong số các hội viên được đề cử vào BCH kỳ này cơ quan hội có mặt 100/100 những hội viên: Mừng Lộc Thạnh Ánh Hùng (may mà các thành viên khác ở cơ quan Hội chưa phải là hội viên!)
Giật mình vì lẽ chi hội Văn học được ưu ái đặc biệt có 3/5 UVBCH Chi hội văn học đã được đề cử (trong đó có 2 là cán bộ Hội) cả hội viên mới Phạm Ánh cũng được đề cử vào BCH. Giật mình vì nhớ lại chuyện bầu cử ở Đại hội trước chi hội âm nhạc đã xảy ra tình trạng thiếu tập trung phiếu cuối cùng chi hội trưởng không trúng BCH anh em chi hội âm nhạc chứng kiến một cuộc cãi vã ngay sau đại hội vì một chuyện chẳng ra sao! Giật mình vì không biết rõ tiêu chí đề cử BCH mới có thật sự chú ý đến sự cân đối giữa các chi hội cũng như xét đến thành viên được đề cử có thật sự tiêu biểu cho văn nghệ sĩ tỉnh nhà hay chưa! Tiếc là thông báo không cho họp BCH các chi hội trước Đại hội đã tước đi quyền đề cử từ các chi hội mọi việc đều do BCH cũ điều hành.
Còn một chút băn khoăn: Không biết kỳ Đại hội này việc Đoàn chủ tịch gồm những gương mặt quen thuộc có kinh nghiệm này có thể giúp Đại hội thành công tốt đẹp hay không? Chưa nghe bất cứ thông báo nào về việc chuẩn bị tham luận của các chi hội được BCH gửi xuống cho các chi hội trưởng để phổ biến cho anh em BCH. Liệu rằng sau Đại hội văn nghệ tỉnh nhà có những chuyển biến tích cực rõ rệt hay không?
Chờ ngày 31.3!

More...

Bình: Những tuổi thơ (Lưu Quang Vũ)

By Trần Hà Nam

NHỮNG TUỔI THƠ
Những tuổi thơ không có tuổi thơ
Những đôi mắt tráo trơ mà tội nghiệp
Chúng ăn cắp đánh nhau chửi tục
Lang thang hè đường tàu điện quán bia
Những bông hoa chưa nở đã tàn đi
Những cành cây chưa xanh đã cỗi.

Em gái mười lăm đã không còn thiếu nữ
Dưới mái tóc quăn trơ trụi vai gầy
Em đi đâu đêm nay
Để lòng tôi se lại
Em lăn lóc trong bùn lội
Mà tôi chẳng biết làm gì
Lặng đứng nhìn em đi
Cổ tôi chừng nghẹn đắng.

Con chim non trong trắng
Người ta đã đánh em
Trong toa tàu chật chội
Người ta làm nhục em
Dưới bẩn thỉu những lùm cây tối
Em sẽ nằm trong những nhà giam đầy muỗi
Con chim non trong trắng của tôi ơi.

Đôi môi em không trong vắt nụ cười
Em chẳng biết yêu thương và mơ ước
Không được đọc những trang sách đẹp
Không biết tin vào những bài ca
Sớm độc ác sớm xấu xa
Bao đứa trẻ như em tàn lụi
Sao mọi người có thể dửng dưng
Nhìn em đi trên đường tối?
Mọi người đều có tội
Trước tuổi thơ đã chết của em.

Muốn nắm bàn tay em
Nói cùng em những điều âu yếm nhất
Mà tôi vẫn không biết làm gì được
Cứ để đêm nay em chẳng về nhà
Đôi vai gầy đi lủi thủi trong mưa.

Đông 71
L.Q.V
tuoitho
Lời bình:

Những năm 80 của thế kỷ XX công chúng yêu kịch nồng nhiệt đón nhận những vở kịch dữ dội của Lưu Quang Vũ: "Tôi và chúng ta" "Lời thề thứ Chín"... xoáy thẳng vào những hiện tượng xã hội nhức nhối từ lâu đã trở thành ung nhọt thâm căn trong chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Nhưng chúng ta cần phải lật lại những trang viết từ những ngày tháng đất nước còn chìm trong không khí khét lẹt khói bom giặc Mỹ trươc 1975 để nhớ có một lưu Quang vũ - nhà thơ rất nhạy cảm với bao mảnh đời bất hạnh biết xót xa đau đớn trướccảnh đời bất công ngang trái. Nhưng vần thơ một thời đã khiến tác giả của nó từng bị nhìn nhận như một phần tử kích động bị xa lánh nghi ngại vì đã tạo nên một luồng thơ chệch ra ngoài quỹ đạo thơ chiến đấu - ngợi ca. Cô đơn bức bối về tinh thần nhưng nhà thơ vẫn đứng vững và không chối bỏ những ý tưởng "bạo gan" để hình thành một Lưu Quang Vũ - kịch tác gia nổi tiếng sau này.
Những tuổỉ thơ được viết vào mùa Đông 1971 khi miền Bắc lúc bấy giờ đang tập trung toàn lực vào cuộc chiến đấu thống nhất đất nước trong tư thế "71 đến nghiêm trang như người lính - Có lệnh là đi tư thế sẵn sàng - Gương mặt sáng nụ cười bình tĩnh - Màu áo xanh tươi khoẻ nhẹ nhàng" (Tố Hữu). Có quá ít thời gian cũng như sự quan tâm hướng về cuộc sống đời thường vốn còn rất nhiều khó khăn thiếu thốn. Bởi thế bài thơ viết về những tuổi thơ không có tuổi thơ chỉ là một tiếng nói xót xa ái ngại lọt thỏm vào giữa dàn đồng ca hùng tráng đang cất lên "bài ca ra trận". Cũng bởi thế toàn bài thơ chỉ vang vọng một giọng thương cảm phẫn uất của một trái tim nghẹn ứ đớn đau và bất lực.
Bức tranh hiện thực được vẽ lên từ một góc khuất từ một không gian thiếu sáng với những nét phác thật dằn tay:
Những tuổi thơ không có tuổi thơ
Những đôi mắt tráo trơ mà tội nghiệp
Ký họa đường phố ấy đã hiện ra thật lạnh lùng chính xác tỉ mỉ trong từng mảng đời "không có tuổi thơ". Nhà thơ lặng lẽ quan sát miêu tả nhưng hoàn toàn khác với cái nhìn vô cảm dửng dưng của bao người "nhìn em trên đường tối". Hiện thực ấy là cơ sở của suy tưởng của xúc cảm mãnh liệt gắn với chàng trai mới chỉ hai mươi ba tuổi để nhà thơ cất lên tiếng nói của lương tri nhức nhối:
Những bông hoa chưa nở đã tàn đi
Những cành cây chưa xanh đã cỗi
một con người như Lưu Quang Vũ từng được tắm mình trong tuổi thơ ngọt dịu "xao động nắng trưa" từng được giáo dục tình cảm yêu thương của thời đại "người yêu người sống để yêu nhau" làm sao không bàng hoàng về thực tế khác với những điều trong sách vở. Trẻ em hư hỏng lang thang hè đường tàu điện quán bia đâu phải lạ lẫm gì nhưng với nhà thơ điều ấy như một sự sỉ nhục một vết ố hoen vào tâm hồn vốn thấm nhuần lời dạy: "Trẻ em như búp trên cành - Biết ăn ngủ biết học hành là ngoan" của Bác Hồ và bản thân đã có một tuổi thơ hạnh phúc.
Một tâm hồn từng có những rung động rất đẹp khi mới mười lăm: "Ai xinh bằng cô bạn nhỏ mến thương" có thản nhiên được không khi viết về "em gái mười lăm đã không còn thiếu nữ" - một chân dung đặc tả mang bao dư vị đắng chát của cuộc sống. Lưu Quang Vũ không chỉ thấy "mái tóc quăn trơ trụi vai gầy" trong "đêm nay" mà còn hình dung con đường "bùn lội" "bẩn thỉu những lùm cây tối" một "con chim non trong trắng" bị đánh đòn bị làm nhục bởi "người ta". Từ "người ta" rất lạnh lùng hiện lên lởn vởn những bóng ma tội ác như từ quá khứ hiện về rình rập xô đẩy tương lai "em gái mười lăm" vào tội lỗi. Nhà thơ không kết tội đứa trẻ "sẽ nằm trong những nhà giam đầy muỗi" mà phẫn uất trước đám đông đựơc định danh là"người ta" kia. Trước sau như một vẫn là tình thương vô hạn cất lên thành lời thơ ray rứt về "tuổi thơ đã chết". Mặc cảm tội lỗi dày vò thành tiếng thơ sám hối: "Mọi người đều có tội" bởi lẽ bản thân nhà thơ "vẫn không biết làm gì được". thơ không chỉ phán xét thương cảm nhà thơ không chỉ bày tỏ tình thương:
Muốn nắm bàn tay em
Nói cùng em những điều âu yếm nhất
là đủ mà còn cần thôi thúc lương tri và hành động của mọi người. bởi với một đứa trẻ sớm tắt nụ cười chẳng biết yêu đương mà mơ ước mất niềm tin sớm độc ác sớm xấu xa làm sao có thể vồ vập trước lòngtốt của nhà thơ. Điều nhà thơ muốn làm cho em là giành lại tuổi thơ đã ngầm hiện trong một kết thúc không có hậu:
Cứ để đêm nay em chẳng về nhà
Đôi vai gầy đi lủi thủi trong mưa
Mong mỏi tốt đẹp của Lưu Quang Vũ là thức tỉnh những tấm lòng nhân ái kêu gọi những bàn tay của mọi người trong xã hội chúng ta cùng chìa ra nắm lấy tay em đưa những tuổi thơ trở lại với cuộc sống các em cần phải có. với ý nghĩa ấy Lưu Quang Vũ đã thực hiện được tâm niệm chân thành về sứ mệnh cao cả của thơ ca qua bài thơ này:
Thơ là bó đuốc đốt thiêu là bàn tay thắp lửa
Thơ sinh sự với cuộc đời không cho ai dừng bước cả
Càng thương yêu càng không vừa ý với mọi điều

Dẫu bài thơ là một bức tranh hiện thực trần trụi và khốc liệt nhưng hiểu được tâm nguyện của nhà thơ một tấm lòng trong sáng ta càng quý trọng thái độ dũng cảm của người cầm bút chân chính không bỏ qua những mảnh đời tuổi thơ bất hạnh. Ta càng thấm thía giá trị cao quý của thi ca chân chính:
Dù ngày mai đời có trăm lần đẹp
Thơ vẫn gọi mọi người vươn đến tương lai
Ta chợt nhận ra những nét gần gũi gặp gỡ trong ý tưởng của Lưu Quang Vũ ở Những tuổi thơ với Mồ côi của Tố Hữu và Sói con ngơ ngác của nhạc sĩ Trần Tiến. Khi lương tri còn thức tỉnh không vô cảm trước nỗi đau trẻ thơ đó chính là sức mạnh là lời kêu gọi hành động để hướng đến một tương lai tốt đẹp hơn bình đẳng hơn. Đó cũng là mục tiêu xây dựng xã hội chúng ta hôm nay./.


Trần Hà Nam

 

More...

Từ cuộc thi thơ trẻ online nghĩ về sáng tác trẻ

By Trần Hà Nam

    Cuộc thi thơ trẻ trên mạng www.thotre.com do Trương Trọng Nghĩa hội viên hội văn học nghệ thuật Tiền Giang phụ trách ban sáng tác trẻ của chi hội văn học chủ nhân website khởi xướng đã thành công. Đây là bước đột phá tiên phong và là một tín hiệu đáng mừng cho thi ca hội nhập vào đời sống hiện nay. Thành công ấy có sự góp phần không nhỏ của những cư dân mạng yêu thơ ca. Đó cũng là một minh chứng cho sự tồn tại của thi ca trong đời sống cho truyền thống của một đất nước chưa bao giờ quay lưng ngoảnh mặt với thơ ca và là câu trả lời cho một băn khoăn: phải chăng thơ đang chết?
Lệ Bình Quan
Ảnh: Tác giả Lệ Bình Quan giải Nhất  thotre.com (ảnh: THN)
    Một điều cần phải nói ngay rằng: cuộc thi sẽ không thể thành công nếu như không có tấm lòng của những Mạnh Thường Quân đóng góp tài trợ cho cuộc thi. Phần thưởng có thể không cao nhưng điều quan trọng là những người làm thơ trẻ đã có một diễn đàn để trình làng những tác phẩm tâm đắc của mình. Còn quá sớm để nói đến những tác giả được giải trong cuộc thi này sẽ làm nên diện mạo của thi ca trong tương lai nhưng cuộc thi đã thật sự giúp cho những người làm thơ trẻ tự tin hơn ở chính mình. Đến với cuộc thi có rất nhiều cây bút đã thành danh trên văn đàn nhưng người đăng quang vị trí cao nhất lại là một người còn rất trẻ: Mai Anh Tuấn với bút danh Lệ Bình Quan sinh năm 1983. Cả hai bài thơ được chấm giải cao nhất một cách khách quan đã chứng tỏ “con mắt xanh” của Ban Chung khảo hai nhà thơ: Nguyễn Trọng Tạo và Lê Minh Quốc. Và điều đáng nói là các tác phẩm này được đông đảo các cư dân mạng đọc và cảm nhận một cách công khai. Những tác giả đạt giải khác đều là những gương mặt hết sức trẻ trung và những bài thơ của họ cũng chứng tỏ một tầm văn hoá một cách khai phá đề tài táo bạo mang hơi thở của cuộc sống đương đại mà không tạo ra những phản cảm có đội ngũ độc giả đều là những người có văn hoá có trình độ tri thức cao. Sân chơi Thơ trẻ online cũng đã tự nâng cao uy tín của mình.
    Từ thành công của cuộc thi này người viết không khỏi chạnh lòng khi nghĩ về cuộc thi sáng tác thiếu nhi ở địa phương mình với những hệ lụy còn làm ê mặt những người trong Ban giám khảo trong đó có bản thân người viết ở trong Ban sơ khảo. Một cuộc thi mà giải cao nhất dành cho con của lãnh đạo Hội còn một giải cao nhất khác lại là …đạo thơ! Thành viên Ban Sơ khảo để lọt tác phẩm đạo thơ đã đành Ban Chung khảo không làm tròn trách nhiệm khi chấm giải dưới sự gợi ý của lãnh đạo ba-rem chấm không thống nhất dẫn đến thiệt thòi cho các cây bút khác. Cuộc thi tiến hành trong một thời gian dài gần gấp đôi cuộc thi trên thotre.com nhưng đã thất bại và tốn tiền của Nhà nước tài trợ! Mặc dù tại trụ sở Hội cũng có nối Internet nhưng không ai nghĩ đến việc tận dụng ưu thế của công nghệ thông tin để đưa cuộc thi đến đông đảo người sáng tác văn chương. Nhắc chuyện buồn đã qua để nghĩ về một hướng phát triển sắp tới. Nên chăng các Hội Văn học nghệ thuật địa phương sẽ cần làm người bảo trợ cho các cuộc thi online để phát hiện các nhân tố mới ở địa phương mình sau đó các tác phẩm sẽ được bình chọn công khai trên mạng nhằm tránh gian lận. Điều này thotre.com đã làm được khi lọc ra những tác phẩm đã công bố ở các phương tiện thông tin đại chúng đem tham gia dự thi! Ban sáng tác trẻ ở các Hội địa phương cần có những người am hiểu công nghệ thông tin để làm được những sân chơi như Trương Trọng Nghĩa. Từ phạm vi địa phương chúng ta có thể tập hợp được những cây bút để tham gia sân chơi sáng tác trên phạm vi toàn quốc.
    Vấn đề này cần được thảo luận chính thức tại Đại hội Văn học Nghệ thuật các địa phương tránh cho những người tâm huyết như Trương Trọng Nghĩa phải làm là gõ cửa tìm tài trợ. May mà còn có những tấm lòng vì thơ ca. Một lần nữa xin chúc mừng sự thành công của cuộc thi Thơ trẻ online và xin được bày tỏ những mong muốn phát triển sáng tác trẻ ở tầm địa phương.

TRẦN HÀ NAM
(UVBCH Chi hội VHNT Bình Định Phó ban Sáng tác trẻ CLB Văn nghệ)

More...

Mê Đạo vài cảm nhận...

By Trần Hà Nam

Đọc tập truyện ngắn Mê Đạo (NXB Văn nghệ 2008) của Lê Xuân Tiến.

 

            Đầu xuân 2008 anh em văn nghệ Bình Định hân hoan đón nhà văn Lê Xuân Tiến từ thành phố Hồ Chí Minh trở về giới thiệu tập truyện ngắn sau một thời gian dài vắng bóng. 20 truyện ngắn bắt đầu bằng “Mê Đạo” - truyện ngắn đã làm nên tên tuổi của Lê Xuân Tiến trong làng văn Bình Định và tác giả cũng đã lấy tên tác phẩm này đặt cho tập truyện của mình. Xem ra cái bóng của Mê Đạo vẫn có một sức ám ảnh rất lớn đối với cây bút này.

Trong tập truyện có thể thấy mảng lịch sử và ngụ ngôn dường như vẫn là sở trường của Lê Xuân Tiến anh tỏ ra có thế mạnh khi biến hoá huyền sử ngụ ngôn thành một mạch truyện có sức hấp dẫn riêng. Riêng về Mê Đạo không cần phải nói thêm vì truyện ngắn này quá nổi tiếng. Truyện về danh tướng Lê Văn Hưng (Đối thoại trước bình minh) hay truyện kể về một kẻ đi tìm học phép lạ đổi đời (Pháp thuật) là những truyện kết cấu theo lối triết lý giọng văn trải nghiệm những bài học của cuộc sống. Tuy nhiên phần lớn những truyện ngắn của anh trong tập truyện này lại gắn với đề tài hiện thực mang đậm dấu ấn cuộc sống thị thành với đời sống của những người thuộc tầng lớp sinh viên viên chức với nhịp sống hối hả quyết liệt. Mỗi nhân vật của Lê Xuân Tiến thường được đặt trong thế dằn vặt trăn trở giữa quá khứ và thực tại. Có thể thấy mẫu người ưa thích của anh chính là những chàng trai trẻ giàu tham vọng nhưng rồi khi lọt thỏm vào vòng xoáy của cuộc sống trở thành những người đàn ông lọc lõi thường đánh đổi lại bằng một giá quá đắt bản thân họ luôn cảm thấy thiếu thăng bằng. Một loại nhân vật nữa là những cô gái khá quyết liệt mạnh mẽ trong tình yêu luôn đi đến tận cùng của tình cảm sẵn sàng dâng hiến nhưng rồi vỡ mộng. Đúng như lời giới thiệu của Cao Huy Khanh trong tập sách này các nhân vật cũng đang trải nghiệm chính mình trong mê đạo của cuộc đời một kiểu “mê đạo hiện đại”.

Trong truyện của anh không có mẫu người hoàn hảo cũng chẳng có kiểu kết thúc có hậu theo truyền thống hay tìm ra “hướng phát triển tích cực lạc quan” theo kiểu sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa dường như ai đó cũng có chút mất mát đổ vỡ…Nhưng có một điều theo tôi là được ở tập truyện đó là tác giả muốn diễn tả hiện thực cố gắng trung thành với hiện thực khách quan. Anh có sự điềm tĩnh của riêng mình khi xử lý những tình huống tâm lý con người trong cuộc sống hiện đại không can thiệp quá sâu vào đời sống nhân vật mà muốn nhường quyền suy ngẫm cho độc giả. Bởi thế có nhiều truyện có kết cấu bỏ ngỏ như muốn tạo dư ba… Anh cũng tỏ ra là một nhà văn biết quan sát xây dựng chi tiết tạo dựng những không gian đối nghịch quá khứ - hiện tại hoài niệm ước vọng - thực tế…để đưa ra những cảnh báo(Mất tích Trò chơi ảo…)Tuy nhiên có những truyện tỏ ra tác giả chưa thật lắng khi còn để cho nhiều chi tiết không có tác dụng đích thực cách miêu tả người còn dễ dãi không mấy tạo được cá tính trong ngoại hình nhân vật. Phải chăng do nhà văn còn ảnh hưởng nghề báo nên tham tình tiết chăng? Một vài truyện còn trùng mô-típ : bị phụ tình bỏ rơi con bia ôm karaoke… vẫn ít nhiều mang tính chất phóng sự. Kiểu tạo dư ba đôi khi làm phần kết bị đuối…Chẳng hạn Quán mưa Bóng ma Một mình Thông cảm là những truyện có tứ nhưng truyện hết rồi mà người đọc cảm thấy vẫn chưa thật “đã”! 

Chào đón một tập truyện ra đời chúng ta cũng hân hoan khi biết nhà báo nhà văn Lê Xuân Tiến vẫn trung thành với con đường truyện ngắn đã chọn. Hy vọng rằng với giọng văn và chất văn của anh từng tạo nên những thành công trên văn đàn anh sẽ còn viết tiếp viết hay và lắng hơn để cống hiến cho bạn đọc những truyện hay.

                                                                    Qui Nhơn 2.2008

T.H.N

More...