Bài thuốc THẦN DƯỢC CỨU MỆNH

By Trần Hà Nam

Bài thuốc THẦN DƯỢC CỨU MỆNH của lương y Nguyễn An Định. Hiện nay cha tôi – người thừa kế một phần nghiệp Đông y của ông nội tôi là cụ Cử nhân Hán học Hà Trì Trần Đình Tân đang dồn sức nghiên cứu phát triển bài thuốc này! Bản thân ông sử dụng chữa viêm tắc tĩnh mạch nghẽn phỗi khá hiệu quả.
Bài thuốc này trước kia được đưa lên trang “Bạn Trỗi” của vnweblogs.com tôi đã đánh máy bổ sung phần còn thiếu từ tài liệu photo của cha tôi. Xin giới thiệu rộng rãi với mọi người!

THẦN DƯỢC CỨU MỆNH

//

XEM TIẾP

More...

Với tôi Trịnh Công Sơn...

By Trần Hà Nam

Có lẽ tôi bắt đầu biết nghe nhạc Trịnh từ cuối thời phổ thông và suốt những năm tháng học Đại học. Tôi tự hào vì ông là sinh viên trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn vì vậy khi nghe những Biển Nhớ Hạ Trắng...tôi cứ cố hình dung ông viết ở nơi nào trong khuôn viên của trường Đại học! 

Cũng lạ chẳng hiểu sao những năm 86 - 90 quán xá lại nhiều băng Khánh Ly hát đến thế có điều thời đó còn nhầm lẫn khi Khánh Ly hát Trầm Tử Thiêng mà cũng nghĩ đó là Trịnh! Cũng phải thôi vì chúng tôi đâu có sinh ra và lớn lên ở miền Nam đâu có dịp tiếp xúc hết với gia tài của Trịnh. Còn nhớ ở Quán cà phê Kem - Biên Cương ngồi nghe và hình dung qua những ca khúc Da Vàng: "Đại bác đêm đêm dội vào thành phố người phu quét đường dừng chổi lắng nghe..." thương cho đất nước và con người Việt Nam phải chịu cảnh đạn bom khốc liệt quá lâu! Và cảm nhận nỗi đau của người nghệ sĩ qua lửa đạn chiến chinh!

Còn nhớ những khoảnh khắc hàng giờ liền ngồi thiền nghe nhạc Trịnh cảm nhận qua màn mưa những lời thủ thỉ "...mưa vẫn mưa bay qua miền đất rộng - Ngày sau sỏi đá vẫn cần có nhau..."! Nhạc Trịnh nghe vào những ngày mưa buồn thật nhưng lại thấy lòng trong trẻo lạ! Có khi đi chơi vào Gành Ráng hay Quy Hòa gặp hôm nắng đẹp là lại nghêu ngao: "Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay nắng qua mắt buồn lòng hoa bướm say..."

Rồi mưu sinh mỏi mệt thành công và thất bại trong cuộc sống cũng nhiều lại tìm đến Trịnh như một nguồn an ủi như tìm chút động viên. Còn nhớ khi trải qua cảm giác ê chề vì bị sỉ nhục (dù rằng là thông tin sai) cả một đêm nghe đi nghe lại không chán bài hát "Tôi ơi đừng tuyệt vọng" qua giọng ca của chính ông và nhận lời an ủi của anh bạn cùng trường đang học bên kia bờ đại dương thấy lòng vơi phiền muộn rất nhiều. Và như phép màu qua 1 giờ đêm từ nỗi tủi nhục biến thành niềm hạnh phúc vô bờ khi thông tin được đính chính. Lại có cảm giác Trịnh như đã đến bên mình dịu nhẹ vỗ về...

Và còn bao lần nghe Trịnh trong cảm giác lòng thắt lại vì thương những cảnh ngộ thiệt thòi những số phận trớ trêu. Lúc ấy lại vang lên lời hát như nhắn nhủ: "Sống trong đời sống cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi..."

Vâng để gió cuốn đi....

Thấm thoắt đã 10 năm. Ngày ấy ngồi tại trường đúng ngày Cá tháng Tư đọc tin trên báo cứ ngỡ ngàng sửng sốt như một trò đùa. Tạo hóa thật nghiệt ngã chọn đúng ngày Cá để đón Trịnh về...Đến nỗi khi đưa thông tin nóng lên mạng home.vnn.vn mình còn bị mắng: đùa gì mà ác thế! Và hơn 10 ngày sau khi có mặt tại Sài Gòn mình đã đến quán Sài Gòn Xanh dự một đêm tưởng niệm Trịnh thật đặc biệt do nhóm bạn ở Quãng Ngãi tổ chức. Hôm đó đã hát như lên đồng liên khúc "Cát Bụi - Tình Xa" dù còn có chút vấp váp nhưng cũng đủ cho cảm nhận nỗi bàng hoàng: Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi để một mai tôi về làm cát bụi. Ôi cát bụi mệt nhoài mặt trời soi một kiếp rong chơi(...) Bao nhiêu năm làm kiếp con người chợt một chiều tóc trắng như vôi lá úa trên cao rụng đầy cho trăm năm vào chết một ngày (...) Ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại cuộc tình nào đã lên khơi ta còn mãi nơi đây. Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ. Ôi những dòng sông nhỏ lời hẹn thề là những cơn mê...

Thấm thoắt đã 10 năm nhạc Trịnh vẫn còn làm ta nhớ bao ngày tháng đã đi qua dù cho "mệt quá đôi chân này tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi". Nhạc Trịnh vẫn vang ngân "dù vắng bóng ai dù vắng bóng ai..."

More...

Hành hương về nguồn cội

By Trần Hà Nam

  • Trần Hà Nam
Những ngày đầu xuân Tân Mão 2011 thầy trò lớp chuyên 11 Văn - Anh Lê Quý Đôn Bình Định chúng tôi đã làm một chuyến hành hương về nguồn cội ở hai huyện Tây Sơn và An Nhơn. Trời nắng đẹp dọc theo lộ trình hai bên đường sắc lúa đông xuân xanh mơn mởn và sắc mai vàng đến giờ mới bừng tươi...
Điểm đến đầu tiên là cụm tháp Dương Long thuộc xã Tây Bình (Tây Sơn) di tích văn hóa Chàm đẹp bậc nhất Bình Định đang được trùng tu. Cụm tháp có mỹ danh là Tháp Ngà sừng sững trên khu đồi dấu tích thời gian hoen trên màu gạch. Những khối đá lặng câm nhưng chứa đựng bao nhiêu huyền tích một thuở của nền văn hóa Chàm rực rỡ. Các phù điêu trên đá bị bào mòn bị hủy hoại khá nhiều nhưng vẫn lộ ra nét chạm khắc tinh xảo. Không có người thuyết minh thầy đành phải huy động hết những hiểu biết hạn hẹp về văn hóa Chàm những kiến thức thu lượm từ thời sinh viên đã từng được nghe chính người địa phương kể lại để chỉ cho học trò biết các biểu tượng tâm linh: rắn thần Naga tục thờ sinh thực khí qua dấu tích Yoni còn khá nguyên vẹn kỹ thuật xây tháp của người Chiêm Thành... Lòng mong mỏi một ngày nào đó quay lại sẽ chứng kiến một công trình được phục chế tương đối vẹn nguyên không có quá nhiều dấu ấn của thời hiện đại can thiệp làm mất đi nét hoang sơ nguyên thủy của di tích.
Từ Tây Bình xe đưa chúng tôi đến thẳng bảo tàng Tây Sơn ở xã Bình Thành. Quần thể di tích liên quan đến Tây Sơn tam kiệt càng lúc càng được tôn tạo khang trang thể hiện lòng kính ngưỡng của mọi người với anh em nhà Tây Sơn. Nhà thơ Trần Viết Dũng một người Tây Sơn chính gốc đã chờ khá lâu để thân chinh làm người hướng đạo cho các cháu biết rõ về nguồn cội Đất Vua. Cả đoàn vào điện thờ Tây Sơn tam kiệt kính cẩn dâng hương các ban thờ. Chính giữa điện là tượng của ba Ngài: Thái Đức hoàng đế bên trái Quang Trung hoàng đế chính giữa và Đông Định vương bên phải. Các pho tượng được dát một lớp vàng mỏng sáng rỡ uy nghi. Bình thường các học trò hiếu động là thế nhưng khi đứng trước các bậc tiền nhân làm rạng danh xứ sở tất cả đều trang nghiêm thành kính. Những tượng thờ văn thần võ tướng được tạc sống động tạo nên không khí như một buổi thiết triều nghiêm cẩn. Thầy trò đã đến được với mảnh đất thiêng được uống nguồn nước trong mát ngọt lịm từ giếng Tiên không bao giờ cạn mạch được ngồi dưới bóng cây me cổ thụ hơn 300 năm lòng chợt thấy nhẹ nhàng khoan khoái như tan biến hết cảm giác mệt mỏi. Bảo tàng Tây Sơn được bố trí khá khoa học nhiều hình ảnh hiện vật quý giá và các sa bàn mô hình được trưng bày phong phú giúp cho du khách có thể hình dung toàn cảnh về thời đại Tây Sơn: từ họ Hồ cùng gốc gác với nữ sĩ Hồ Xuân Hương đất Nghệ An phát triển thành nhánh vào miền Trung dừng chân ở miền đất Bình Khê để rồi thành ba anh em nhà Nguyễn Tây Sơn ứng câu sấm Trạng Trình "Tây khởi nghĩa Bắc thu công". Những di tích biết nói để các thế hệ hậu sinh hiểu thêm về truyền thống Kinh - Thượng một lòng về sức mạnh của những dân nghèo tập hợp dưới ngọn cờ Nguyễn Nhạc từ thượng đạo tới hạ đạo Tây Sơn phát triển thành phong trào nông dân mạnh như vũ bão đánh tan thù trong giặc ngoài chói sáng tên tuổi người anh hùng bách chiến bách thắng Quang Trung hoàng đế về sau. Nhà thơ Trần Viết Dũng say sưa giảng giải về những vũ khí chứng tỏ sức sáng tạo của quân đội Tây Sơn làm kinh hoàng bạt vía kẻ thù: súng điểu thương hỏa hổ thần công... Còn đây bút tích của vị hoàng đế tài ba gửi cho danh sĩ Bắc Hà là La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp còn đây lời hịch vang dậy hào khí: "Đánh cho để dài tóc - Đánh cho để đen răng - Đánh cho nó chích luân bất phản - Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn - Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ!". Một thời đại ngắn ngủi nhưng đã kịp ghi lại những thành tựu văn hóa - kinh tế: tượng La Hán chùa Tây Phương tiền Quang Trung thông bảo ...Thời gian ngắn ngủi không cho phép nán lại lâu khi ra về thầy trò ngắm mãi phiên bản bức tượng vua tôi Quang Trung hoàng đế tại chùa Bộc (Hà Nội) càng ngắm càng khâm phục thần thái của người anh hùng áo vải đã được nghệ nhân lưu mãi lại với thời gian: nét phong trần của người xông pha trận mạc vẻ giản dị không ngờ đậm chất quê kiểng Bình Định. Dưới tượng đài Quang Trung trước phút chia tay nhà thơ Trần Viết Dũng lại làm sống dậy hình ảnh Quang Trung qua bài thơ "Vua và Em" của anh - một quân vương đa tình hào hoa mà mộc mạc chân tình: "Xưa hoàng đế để ria con kiến - Rất thời trang và rất phong trần - Nên chi con gái thăng Long ấy - Cứ phập phồng ngực công chúa Ngọc Hân..."
Từ Phú Phong xuôi về An Nhơn điểm dừng chân cuối cùng của thầy trò chúng tôi là di tích thành Hoàng Đế của người anh cả trong tam kiệt: Thái Đức hoàng đế Nguyễn Nhạc. Cung điện đã hoang tàn chỉ còn trơ nền gạch cũ nhưng còn đó cặp voi đá trên đường vào thành nội còn những con nghê đá như chứng tích một thuở hào hùng. Dấu ấn của lần khai quật di chỉ gần nhất làm lộ ra nền cung điện hồ bán nguyệt lẫn vào nền đất khiến người viếng thăm không khỏi xót xa về sự hủy hoại trả thù tàn khốc của nhà Nguyễn Gia Miêu muốn xóa sạch chứng tích Tây Sơn trong lòng người Bình Định. Nhưng lòng tôn kính của người dân đất này vẫn bền chặt bắt rễ vào mạch đất vững chãi như những cây sung cây bồ đề cổ thụ từ thuở xa xưa vẫn sống vững chãi bất chấp sự tàn phá. Trớ trêu thay cũng chính tại nơi đây lăng mộ của Võ Tánh vẫn còn nguyên như chứng tích cho tinh thần mã thượng của người chiến thắng - danh tướng Trần Quang Diệu nhà Tây Sơn. Mới thấy tướng lĩnh Tây Sơn dẫu xuất thân từ chốn thôn dã vẫn có sẵn tinh thần nhân văn và thượng võ đối đầu quyết liệt nơi chiến trường nhưng vẫn rất tôn trọng đối phương vì lòng tận trung với chúa. Hai thái độ ứng xử lịch sử còn để lại bao bài học hay!
Một chuyến dã ngoại ngắn ngủi thầy trò chúng tôi được tận mắt chứng kiến những dấu tích trên mảnh đất quê hương giàu truyền thống lịch sử - văn hóa. Những hình ảnh lưu lại khoảnh khắc khó quên sẽ giúp các em tự hào hơn về quê hương mến yêu hiểu thêm về đất và người Bình Định.
14.2.2011
T.H.N

More...

Giới thiệu tập thơ Hương của đất

By Trần Hà Nam

Bài viết của Trần Hà Nam giới thiệu tập thơ Hương của Đất của Trịnh Hoài Linh trên sóng phát thanh Bình Định ngày 18.11.2010. Trần Hà Nam biên tập lại với hình ảnh đêm giới thiệu Trịnh Hoài Linh của CLB Xuân Diệu.

More...

Trịnh Hoài Linh – Ruộng và Làng

By Trần Hà Nam

(Đọc Hương của Đất - tập thơ của Trịnh Hoài Linh NXB Thời Đại 2010)

Mẹ...

Ruộng...

Làng...

Trịnh Hoài Linh đã đem vào trong thơ tất cả cái chân chất của một nông dân thứ thiệt. Khi tập thơ của anh thấm đẫm một niềm thơm thảo chất bùn đất quê làng! Thú thật dạo này tôi dị ứng khi nghe những danh xưng những mĩ từ mượn màu quê kiểng nhưng thực ra đó chỉ là thứ trang sức lòe người đánh bóng tên tuổi để tiện bề loi ngoi trong bả phù hoa danh lợi. Nên đọc thơ Trịnh Hoài Linh ít nhiều cũng có chút cảm giác e dè ấy. Mà cũng lạ khi người ta nếm đủ mùi vinh hoa thì lại cứ thích về nép trong bóng quê làm dáng như cái kiểu các ông vào hàng đặc sản gọi món rau muống xào tỏi để tỏ ra mình chưa quên gốc quê mùa. Thật may thơ của Trịnh Hoài Linh là của một dân làm ruộng thứ thiệt tay chân chai sần nứt nẻ vì cắt lúa lội ruộng. Nên trước hết tôi tin anh nói thật cái khó tìm ra trong thời buổi thiên hạ thích nói láo thích lòe đời. Mà cũng thật may khi lại không phải là cái thật thà như đếm có sao nói vậy để làm cho thơ trở thành dung tục sống sượng - cũng là một cách mà một số người ngộ nhận đó là dòng thơ dân gian thực chất là tục tĩu hóa thơ.

Thơ Trịnh Hoài Linh có mỹ cảm có thi pháp hẳn hoi. Thậm chí nếu như đưa vào một công trình luận văn kiểu tìm tính dân tộc trong thi pháp thơ đồng quê e có khi liệt kê ra hàng đống không gian nghệ thuật làng quê thời gian nghệ thuật hồi tưởng tâm thức nông dân... trong gần 40 bài thơ của anh. Và nếu tán giỏi thì Trịnh Hoài Linh khéo trở thành một hiện tượng một phát hiện của nền thơ trên đường về nguồn quê hương! Xin anh lượng thứ cho những lời của một kẻ cày-đường vốn không rành lắm về nông dân nông thôn vì đã không hít thở hương đồng có dễ hơn ba chục năm như tôi. Nếu anh là kẻ háo danh thèm tiếng thì cứ coi như đây là sự giễu cợt ba trợn của một kẻ chẳng hiểu gì mà múa ba tấc lưỡi. Nhưng tôi nghĩ mình dám bạo miệng mà nói những điều ấy bởi Trịnh Hoài Linh là người làm thơ có chất ở đất Bình Định này và nếu anh có chút ngông chút dấn thân thì biết đâu sau cái Đại hội nhà văn trẻ năm nào lâu lắc giờ đây anh đã có hàng chục tập thơ và tiếng tăm như cồn trên văn đàn nếu sang trọng nữa thì kiếm chút quan chức văn nghệ tỉnh nhà! Chứ có đâu về lại với luống cày với đồng quê - với Làng Ruộng và Mẹ - tảo tần hôm sớm cuộc đời để nguyện làm một "lão nông tri điền" thứ thiệt. Anh dại chăng? Hay anh "khôn nẻ vỏ"? Dại - khôn cũng nằm ở miệng người đời thôi. Còn tôi tin Trịnh Hoài Linh chưa hề toan tính điều này cứ hồn nhiên làm thơ hồn nhiên chơi với bạn bè văn nghệ đến mức bị lợi dụng thì cũng chỉ lắp bắp không tin nổi sao mình là thằng cày ruộng mà nỡ lòng cũng bị lôi vào cuộc thị phi! Có hề chi anh vẫn cứ "dzìa dzí Hậu" theo cách nói đặc sệt chất An Nhơn của mình.

Không tin sao được khi gặp những vần thơ hồn hậu về cánh chim như thấp thoáng chất đồng dao - nhưng không phải đuổi chim mà lại là gọi chim về:

Đậu xuống sân nhà ta

Hỡi cánh chim tha hương

Lúa của ta đã vàng

Sông ta đầy nước ngọt

Chim tha hồ mà ăn

Chim thỏa thuê mà tắm...

(Cánh Chim)

"Đất lành chim đậu!" Trịnh Hoài Linh đã mở đầu cho tập thơ của mình bằng những lời gọi chim gọi thơ tung cánh trên cánh đồng làng hào phóng trên mảnh đất mà anh dày công chăm xới để thả sức thăng hoa hồn thơ khi mùa vàng đã tới. Ý tưởng thật ngộ nghĩnh nhưng cũng thật giản dị mộc mạc. Còn gì tha thiết và đáng quý bằng chính người nông dân nói về công việc của mình bằng thơ để có cảm giác thư thái sau giờ phút đổ giọt mồ hôi thánh thót trên luống cày. Nên cũng dễ hiểu tại sao anh nói về quê hương bắt đầu bằng tình cảm tri ân sâu nặng bắt đầu từ Người Mẹ:

Mẹ bỏ quên

Giọt mồ hôi trên đồng

Con cua cái ốc cho tôi cái chữ

Dảnh mạ quắt queo cho tôi rau cháo đỡ lòng.

(...)

Mẹ bỏ quên

Bỏ quên

Những điều tôi lại nhớ

Khói hương này xin dâng tạ mẹ tôi

(Mẹ bỏ quên)

Tôi thích những câu thơ không phải cố gắng lên giọng mà vẫn rõ mồn một là thơ của Trịnh Hoài Linh. Không cần phải giả vờ thành thật không cần phải lên gân sám hối. Bóng bà bóng mẹ bóng chị... những người phụ nữ tảo tần cứ hiện lên những trang đời đắng đót trong thơ anh chân thành như lời tâm tình gan ruột được viết bằng sự hàm ân sâu xa:

Người đàn bà nhặt những hạt thóc

lẫn trong cỏ dại

như nhặt nỗi buồn của đất

chấp chới tuổi thơ tôi trang giấy ngày tựu trường

chữ o ngoằn ngoèo cũng từ quả cà

hạt thóc quả bưởi quả cau

lấp lánh giọt mồ hôi người mẹ...

(Người đàn bà nhặt thóc)

Triết lí về cuộc sống của Trịnh Hoài Linh cũng từ những mảnh đời gần gũi từ làng từ ruộng mà thành hình. Cuộc sống hằn lên bao vết chân chim trên gương mặt cũng hằn lên bao suy tư trăn trở về một làng quê luôn ám ảnh phận nghèo. Có lẽ nhiều người làm thơ về làng quê cũng có chung tâm trạng này và đó cũng là thực trạng buồn khi làng quê Việt Nam qua bao đời rồi vẫn cứ đìu hiu nghèo khó buồn bã trong thơ. Nông dân thuần chất thì nghêu ngao đánh lừa cảm giác bằng cái kiểu "Ai bảo chăn trâu là khổ chăn trâu thú lắm chứ..."; còn có chút chữ nghĩa có chút sĩ diện như Trịnh Hoài Linh lại thưởng thức cuộc sống theo hơi hướng người xưa - của những bậc hiền giả lánh đời. Có lúc học đòi Chống gậy trúc dạo chơi núi Bà có lúc lại ngẫm ngợi Hương của đất:

Trở về đường đất ta thôi

Khói đồng mênh mang sương khói

Cơm hẩm dưa cà

Vỗ bụng hát

Thân phận con người hề

Bèo bọt phù vân...

Cái lối ca ngợi cuộc sống Hàn cư như thế thực tình tôi không thích lắm vì nó cũ. Và yếm thế! Giọng điệu ấy dễ lẫn lộn và cũng dễ bị những kẻ láu cá lợi dụng khen lao ngâm nga để dễ dẫn dắt đến ngộ nhận ở con người vốn thiệt thà không nhiều tham vọng như Trịnh Hoài Linh.

Trong tập thơ có những bài anh thoát ra khỏi không gian làng khi anh viết trong vai trò của một hội viên văn nghệ đi dự các trại sáng tác. Chẳng hạn những bài viết về Đà Lạt hồ Xuân Hương Vũng Tàu...nhưng đi đâu cũng về lại với làng quê với những lo toan mưa nắng lam lũ của người miền Trung giữa vùng đất lạ:

Đêm Vũng Tàu tôi thức cùng những người đồng hương

(...)

Họ tựa vào nhau

trở về những căn phòng thuê chật chội

ẩm ướt khi gà vừa cất tiếng gáy

cuộc mưu sinh ngày mai còn lắm vất vả

Dải đất miền Trung như gương mặt nông dân

Người miền Trung cõng cái nghèo lưu lạc.

            (Thức cùng đồng hương)

Có lẽ vì thế cho nên với Trịnh Hoài Linh làng vẫn là nơi tìm thấy chút yên bình để có thể "bắt đầu từ gốc rạ/tôi nhận ra tôi" để Cuối năm uống rượu với bạn làm ruộng. Và trên hết làng là nơi đón nhận những chân tình là nơi bao người thân yêu cùng gắn bó sinh tử là nơi kí thác nguyện ước tâm linh. Xin khép lại bài viết bằng bài thơ Về làng - theo tôi như mang trọn nỗi niềm của Trịnh Hoài Linh:

Về làng

Cúi lạy bờ tre

Rêu phong giếng lạn

Chợ quê trưa người

 

Về làng hầu chuyện rau khoai

Tóc quê lũ rối

Bời bời bão giông

 

Về làng

Vịn gốc nghĩa nhân

Mai sau con cháu

Vẫn còn chốn quê

 

Về làng cạn cốc rượu khê

Tỉnh say say tỉnh

Bên lề văn chương

 

Về làng còn có người dưng

Cho ta nắm đất

Nén hương bìa làng.

Tôi cũng nghĩ chỉ có Làng mới thật sự đem lại cho Trịnh Hoài Linh một hồn thơ phong phú để thơ anh có thể gặp gỡ với những hồn tri âm đồng điệu ươm mầm cho những bài thơ mới của anh kết thành mùa thơ trĩu hạt.

                                                            Quy Nhơn tháng 11 năm 2010

                                                                        Trần Hà Nam

Nhà thơ Trịnh Hoài Linh

More...

Nhân vật Liên trong HAI ĐỨA TRẺ (Thạch Lam)

By Trần Hà Nam

Đề luyện tập: Phân tích tâm trạng nhân vật Liên trong không gian phố huyện (Hai đứa trẻ - Thạch Lam)

BÀI VIẾT THAM KHẢO:

Thạch Lam xuất hiện trên văn đàn Việt Nam 1930 - 1945 như một làn "gió đầu mùa" tinh khiết êm nhẹ. Người đọc văn Thạch Lam cảm nhận được một tình người đằm thắm trong một giọng văn tha thiết. Cái đẹp tự lan toả "tiềm tàng trong mọi vật bình thường" khiến cho "lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn". Thạch Lam đã khơi gợi ánh sáng cho những tâm hồn từ ngay những mảng đời chìm trong bóng tối. Truyện ngắn Hai đứa trẻ - câu chuyện về hai chị em ở phố huyện nghèo - như một bài thơ thấm đẫm tình người. Thế giới trẻ thơ gợi lại cho mỗi chúng ta những rung động êm đềm mà sâu sắc mở ra những suy tư về thân phận con người.

Trong văn xuôi Việt Nam những năm 30 của thế kỉ XX có lẽ khó ai tìm ra được những nét đẹp tiềm ẩn trong cái bình thường giỏi như Thạch Lam. Các nhà văn Tự lực Văn đoàn những anh em của Thạch Lam cũng hay nói về cảnh nhà quê người nhà quê nhưng đã tước đi vẻ hồn nhiên tươi tắn chân thực của cuộc sống ấy thay vào đó là những cái nhìn có phần xa lạ kẻ cả đôi chút khinh miệt. Có lẽ trong số anh em họ Nguyễn Tường Thạch Lam là người sống sâu nặng hơn cả với kí ức tuổi thơ của mình. Trong tâm tư của nhà văn phố huyện Cẩm Giàng (Hưng Yên) và người chị tần tảo đã trở thành chuỗi kỉ niệm đẹp đẽ nhất khiến cho ông khi viết về hình ảnh phố huyện vẫn còn vẹn nguyên những ấn tượng sâu đậm của tuổi thơ. Hai chị em Liên và An chính là những gì Thạch Lam yêu mến gắn bó thuở thiếu thời.

Người đọc không thể nào quên ấn tượng về một không gian phố huyện chuyển dần vào bóng đêm. Những âm thanh của một ngày sắp tắt cùng với một phương tây cháy rực gieo vào lòng người nỗi buồn mơ hồ. Một phiên chợ chiều tàn dăm đứa trẻ nhặt nhạnh những thứ vương vãi xung quanh chợ không chỉ đánh động tình thương củacô bé Liên đầy lòng trắc ẩn mà còn khiến chúng ta cũng bồi hồi vì những nét thân thuộc của quê hương một "mủi riêng của đất của quê hương này". Tài năng của Thạch  Lam đã giúp chúng ta nhận ra cái hồn quê hương dìu dịu thấm vào từng cảnh vật và những sinh hoạt ban đêm của những con người phố huyện. Tất cả những gì nhà văn mô tả đều hết sức bình thường trong một câu chuyện không có cốt truyện. Khung cảnh và những con người đều như hướng vào một chủ đích của nhà văn: khắc hoạ những nét bình dị lặng lẽ trong một không khí xã hội đang chìm trong bóng đêm dày đặc của cuộc sống quẩn quanh không lối thoát.

Những nhân vật phố huyện: mẹ con chị Tý với hàng nước bác Siêu bán phở gia đình bác Xẩm... từng ấy nhân vật đã làm nên cái đặc trưng của phố huyện. Đó là những con người đang lầm lũi trong cuộc mưu sinh tâm trạng lúc nào cũng lo toan và nhẫn nhịn. Họ cùng chờ đợi không phải là những người khách mà chính là đang mòn mỏi hy vọng . Những cuộc đời trong bóng tối ấy cũng giống như không gian phố huyện kia dày đặc tăm tối nhưng vẫn loé lên ánh sáng của một thế giớ khác một thứ ánh sáng mong manh nhưng không hề lịm tắt.

Không phải ngẫu nhiên nhà văn đã miêu tả cuộc sống phố huyện  gắn với ba thời điểm nối tiếp: hoàng hôn - tối - khuya. Bóng tối càng dày đặc bao nhiêu thì khát vọng hướng về ánh sáng càng khắc khoải bấy nhiêu. Ánh đỏ rực của buổi hoàng hôn dẫu đẹp nhưng lại gieo vào lòng cô bé Liên nỗi buồn man mác vì cuộc sống của hai đứa trẻ trong một gia đình sa sút đã mang sẵn những dư vị của bóng tối. Đó là thời điểm bắt đầu những lo toan của thế giới người lớn nên "bóng tối ngập đầy dần" đôi mắt Liên. Liên đã chứng kiến những con người "đi lần vào bóng tối" "từ từ đi vào bóng đêm" và rồi từ bóng tối mênh mông lại hiện lên những bóng đời chập chờn ánh sáng ngọn đèn bếp lửa. Ánh sáng của thực tại chỉ còn là "nguồn sáng" xa lạ của những vì sao trên trời. Là những "khe sáng" "quầng sáng" "hột sáng" mong manh của những con người cùng sống nơi phố huyện nghèo. Sự sống như ẩn mình trong ánh sáng nhưng vẫn không xua tan được những ám ảnh bóng tối. Nó chỉ đánh thức những hoài niệm tuổi thơ. Những ngày tháng êm đềm của chị em Liên khi cảnh nhà chưa sa sút. "Vùng sáng rực và lấp lánh" của quá khứ là một tương phản để cắt nghĩa cho tâm trạng của Liên: "Đêm tối đối với Liên quen lắm chị không sợ nó nữa". Đó là sự chấp nhận là thực tế đáng buồn mà Thạch Lam đã nhận ra từ cuộc sống của hai đứa trẻ. Hoàn cảnh không cho phép hai chị em Liên - An được sống bình thường như bao đứa trẻ khác tuổi thơ của những đứa trẻ con nhà nghèo không có ánh sáng đang cằn cỗi dần cùng bóng tối. Phải chăng vì vậy mà cô bé Liên dễ động lòng trắc ẩn trước "mấy đứa trẻ con nhà nghèo" còn An dù thèm nhập bọn cùng đám trẻ con chơi đùa nhưng nhớ lời mẹ dặn nên đành ngồi im. Cảnh nghèo dễ khiến tạo ra mặc cảm dù cho là những đứa trẻ. Thạch Lam dường như không muốn để cho những cảm giác bi kịch đè nặng lên số phận những con người nghèo khổ bằng thái độ trân trọng ông đã nâng đỡ cho các nhân vật của mình vực dậy những khát khao đổi đời ngay trong những khoảnh khắc ánh sáng mong manh nhất: "Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ"...

"Một cái gì tươi sáng hơn" bản thân họ cũng không hề biết trước chỉ là những trông ngóng mơ hồ. Nhà văn không thể chỉ ra "con đường sáng" cho những con người nghèo khổ ấy. Có lẽ ông cũng không mơ hồ ảo tưởng như những cây bút Tự lực Văn đoàn khác như Khái Hưng Nhất Linh Hoàng Đạo để mong chờ một thay đổi theo khuynh hướng cải lương một tình thương bố thí nửa vời. Ông cũng không trông chờ nhiều vào hoạt động của "Hội Ánh sáng" do các anh em của ông tổ chức sẽ cải thiện cuộc sống dân nghèo. Bằng trực giác và sự nhạy cảm của tâm hồn nghệ sĩ giàu yêu thương Thạch Lam đã phát hiện những nội lực để vươn lên của con người từ chính nền cuộc sống nghèo khổ. Ông đã diễn giải sâu sắc bằng hình tượng chuyến tàu đêm ngang qua phố huyện.

Chuyến tàu ấy là hoạt động cuối cùng về đêm của phố huyện là dịp cuối cùng để cho những người bán hàng đêm như chị em Liên mong "may ra còn có một vài người mua". Nhưng vượt lên cuộc sống thường nhật mà nỗi thất vọng lớn hơn niềm hy vọng là sự háo hức trông đợi chuyến tàu "mang ánh sáng của một thế giới khác đi qua" để con người không đánh mất niềm tin vào sự sống . Vì vậy Thạch Lam đã dành những câu văn thật tinh tế để diễn tả cảm giác đợichờ ở Liên và An. Đặc biệt cô bé Liên đã chiếm được nhiều cảm tình ở người đọc. Không chỉ vì Liên là người chị lớn đảm đang tay hòm chìa khoá của mẹ vì dẫu cho cô bé Liên có tự hào về chiếc chìa khoá đeo vào chiếc dây xà tích bạc thì điều ấy chỉ làm người đọc buồn và thương cảm cho một cô bé sớm già trước tuổi. Điều mà Thạch Lam làm cho người đọc yêu mến nhân vật chính là khoảnh khắc ông giúp phát hiện vẻ đẹp giàu nữ tính của nhân vật: "Liên khẽ quạt cho em vuốt lại mái tóc tơ (...) Qua kẽ lá của cành bàng ngàn sao vẫn lấp lánh; một con đom đóm bám vào dưới mặt lá vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ thỉnh thoảng từng loạt một. Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn có những cvảm giác mơ hồ không hiểu". Đây là trang văn đậm chất thơ đem đến sự ngọt ngào của tình  cảm nhà văn  dành cho Liên tạo ra cảm xúc đồng điệu ở người đọc. Một cô bé giàu mộng mơ ắt hẳng không thể để tâm hồn ngập dần trong bóng tối. Đó là tiền đề để Liên có thể cảm nhận ánh sáng chuyến tàu đêm khác hẳng mọi người: Liên lặng theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua". Ánh sáng rực rỡ của con tàu mang hình ảnh chứa đựng khát vọng về tương lai đánh thức sức sống mãnh liệt của tâm hồn Liên. Không phải một lần Liên đón nhận ánh sáng ấy mà đêm nào cô cũng được sống trong những giờ phút mơ tưởng này. Mơ ước lãng mạn bao giờ cũng là cơ sở của hành động. Thạch Lam đã đem đến một thông điệp giàu ý nghĩa về con người tạo nên giá trị nhân văn của tác phẩm: hãy tin tưởng và trân trọng khát vọng của con người dẫu thực tại còn đầy bóng tối như không gian phố huyện nghèo kia nhưng con người dù trong hoàn cảnh nào cũng vẫn hướng về ánh sáng. Cảm quan lãng mạn không cho phép nhà văn đi xa hơn nhưng cũng giúp cho người đọc thêm yêu mến những con người nghèo khổ đầy hy vọng.

Từ tình cảm dành cho những con người bé nhỏ Thạch Lam còn làm sống dậy những tình cảm gắn bó với quê hương mảnh đất và con người bình dị mà thân thương. Có thể xem đó là một khía cạnh kháccủa tâm hồn nhân ái Thạch Lam. Ông nói về những cảm nhận của hai chị em cũng là phát hiện về mối quan hệ gắn kết giữa con người với mảnh đất. Dường như những hương vị bình thường mùi đất mùi chợ cũng là một phương diện của tâm hồn hai đứa trẻ cũng là sự tha thiết trìu mến của nhà văn hướng về vùng đất Cẩm Giàng từng lưu dấu tuổi thơ. Những chi tiết bình thường nhất nơi phố huyện còn lan toả cảm giác ấm áp ân tình của Thạch Lam đến tận bây giờ. Bóng tối mênh mông là miền đời không thể lãng quên và không được phép lãng quên bởi ở đó có những con người mà nhà văn thương mến nhất.

Huyền Kiêu một người bạn của Thạch Lam đã rất có lí khi cho rằng "Thạch Lam là một người Việt Nam thành thực nhất" có lẽ bởi nhà văn đã yêu cuộc sống và những con người nghèo khổ qua những trang văn thấm đượm tình người những trang văn "rất nhiều Thạch Lam trong đó". Độ chân cảm từ những trang văn Thạch Lam sẽ còn làm cho nhiều thế hệ người đọc còn bồi hồi xúc động./.

                                                                        Trần Hà Nam

More...

Phim "NHỮNG THIÊN THẦN ÁO TRẮNG" - sự xúc phạm môn Văn

By Trần Hà Nam

Là một người dạy Văn làm công tác giáo dục tôi đã cố gắng theo dõi các bộ phim nói về tuổi học trò "Những thiên thần áo trắng" "Bộ tứ 10A8"... Nhưng những gì các tác giả những bộ phim đặt ra đã đem lại một sự thất vọng lớn. Không hiểu tâm lý học sinh gán ghép những tư tưởng một cách áp đặt và tỏ ra lạc hậu với thực tế trường học hiện nay.
Phải nói ngay rằng đội ngũ diễn viên trẻ trung ở độ tuổi được gọi là "teen" (như cách gọi thời thượng hiện nay) quả là một sự lý tưởng hóa cao độ để gửi gắm những tư tưởng mà có lẽ các nhà làm phim cho là mới mẻ! Tôi không hiểu VTV3 khi cho chiếu những bộ phim về tuổi học trò thì có nghĩ đến những hệ lụy từ ảnh hưởng phim ảnh hay không? Song song chiếu với bộ phim "Những thiên thần áo trắng" nói trên còn là "Bộ tứ 10A8" - không thể là một bộ phim giáo dục mà dường như là một bản sao sitcom sống sượng từ nước ngoài phản cảm vô cùng (tôi sẽ có dịp quay lại bộ phim này sau)! Quay trở lại với "Những thiên thần áo trắng" ở hai tập phim gần đây khi các tác giả gửi gắm thông điệp về cách dạy - học môn Văn xin bàn mấy ý nhỏ:
- Mượn cô học trò từ nước Anh về - lớp trưởng July Mill trong một giờ kiểm tra Văn thể hiện thái độ phản ứng trước việc học thuộc lòng các tác giả đã xuyên tạc trắng trợn bản chất môn Văn! Một bài kiểm tra 45 phút mà chỉ chép thuộc lòng bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh là sự vô lý đầu tiên! Một bài thơ hay như vậy với một cô giáo dạy Văn lý tưởng hóa cao độ vậy mà không làm cho một học sinh thông minh nhạy cảm yêu và thuộc bài thơ Xuân Quỳnh đó là điều không thể lý giải!!!
- Tác giả phim xúc phạm nghiêm trọng nữ sĩ Xuân Quỳnh khi lấy tác phẩm này làm minh họa khi để cho cô học trò hồn nhiên nói đây là bài thơ không hay nên không thuộc (vậy phải xem lại cách dạy của cô!). Còn sau đó lại cho một cơ hội thuộc lòng Tây Tiến của Quang Dũng lại tiếp tục xúc phạm giáo viên Văn xúc phạm Quang Dũng khi đọc đứt đoạn bài thơ (không thuộc) mà lại nhận 10 điểm!!!
- Tiếp tục trong giờ học "thử nghiệm" cô giáo cho học sinh bàn về tiền coi như là "phát kiến" táo bạo trong giờ học. Xin thưa quá lạc hậu với những tiết học sinh động ở phổ thông hiện nay khi những vấn đề này chúng tôi đã cho các em lớp 10 thảo luận rồi!
Trước khi đề xuất những ý tưởng hãy chịu khó đi vào môi trường giáo dục hiện nay hiểu các em hiểu thầy cô và nhà trường rồi hãy xây dựng kịch bản và đạo diễn phim thưa các nhà làm phim. Còn cứ như thế này là lạc hậu với thời đại với giáo dục hiện nay và xuyên tạc trắng trợn môn Văn.

More...

Có một Hữu Loan - Đèo Cả...

By Trần Hà Nam

Nghe tin ông ra đi ở tuổi 95 vẫn cảm thấy có cảm giác ngậm ngùi dù biết là quy luật không thể cưỡng lại thời gian. Ông không có một tập thơ để đời nhưng có những bài thơ đã đi vào trong ký ức bao thế hệ. Tôi không muốn nói nhiều về Màu tím hoa sim - bài thơ gắn liền thiên tình sử bi tráng thời kháng chiến. Tôi nghĩ về ông như một nhân cách sững sững với Đèo Cả ngạo nghễ một dáng đứng trên văn đàn!
Tôi nghĩ với bài thơ góp mặt trong 100 bài thơ hay nhất thế kỷ XX này Hữu Loan cũng đã ghi một dấu ấn thế hệ của một lớp người yêu Tổ quốc đến đắm đuối thật kiên cường và bình thản trước bao biến cố cuộc đời! Đọc Đèo Cả vẫn thấy lồng lộng một nhân cách Hữu Loan. Xin được tưởng nhớ ông bằng việc đọc lại những vần thơ réo sôi nhiệt huyết này!
Đèo Cả - Hữu Loan

Đèo Cả!
Đèo Cả!
Núi cao ngút!
Mây trời Ai Lao
....................sầu đại dương
Dặm về heo hút
Đá Bia mù sương
Bên quán "Hồng quân"
..............................người
......................................ngựa
.............................................mỏi
Nhìn dốc ngồi than
..........................thương
....................................ai
.......................................lên
............................................đường
Chầy ngày
...............lạc giữa núi
Sau chân
.............lối vàng
........................xanh tuôn
Dưới cây
............bên suối độc
Cheo leo chòi canh
..........................như biên cương
Tóc râu
...........trùm vai rộng
Không nhận ra
....................người làng
Ngày thâu
..............vượn hú
Đêm canh
..............gặp hùm lang thang
Rau khe
...........cơm vắt
Áo phai
...........màu chiến trường
Gian nguy
..............lòng không nhạt
Căm thù
............trăm năm xa
Máu thiêng
.............. sôi dào dạt
Từ nguồn thiêng
...................... ông cha
"Cần xây chiến lũy ngất
Đây hình hài niên hoa
- Xâm lăng!
Xâm lăng!
Súng thèm
...............gươm khát..."
Ai ngân lung lay
.....................đêm quê nhà
Nhớ lần thăm Đèo Cả
Hậu phương từ rất xa
Ăn với nhau bữa
......................heo rừng
..................................công thui
...............................................chấm muối
Trên sạp cây rừng
Ngủ chung
...............nửa tối
Biệt nhau
.............đèo heo
.........................canh gà
Râu ngược
...............chào nhau
.............................bên dốc núi.
Giặc từ Vũng Rô
...................... bắn tới
Giặc từ trong
...................tràn ra
Nhưng Đèo Cả
....................vẫn đứng vững
Đèo Cả Nam
.................máu giặc
.............................mấy
...................................lần
.......................................nắng
..............................................khô
Sau mỗi lần thắng
Những người trấn Đèo Cả
Về bên suối đánh cờ
Người hái cam rừng
......................... ăn nheo mắt
Người vá áo
................thiếu kim
........................... mài sắt
Người đập mảnh chai
............................vểnh cằm
........................................ cạo râu
Suối mang bóng người
..............................soi
..................................những
..........................................về đâu
(1947)

More...

Đọc "Thơ và Bình Thơ"

By Trần Hà Nam

Trong cuộc sống có lẽ một trong những điều đáng sợ là sự lãng quên. Có bao nhà thơ bài thơ tưởng đã chìm vào quá vãng. Tuy nhiên có người đã lặng lẽ ghi dấu ấn của mình vào cuộc đời bằng con đường văn chương nghệ thuật với tư cách một người bạn đường tôn vinh những giá trị thi ca qua sự trải nghiệm tâm huyết bền bỉ suốt nửa thế kỷ. Vẫn giữ một mối tình thơ khi tuổi đang cận kề thất thập kể cũng là một điều hiếm hoi!

Sau "Cảm nhận và Bình thơ" - tác phẩm đoạt hạng A giải Xuân Diệu - Đào Tấn nhà giáo ưu tú Trương Tham lại tiếp tục trình làng công trình mới chắt lọc những bài bình thơ tâm đắc cũng như những cảm nhận mới mẻ trong quyển sách "Thơ và Bình thơ" (NXB Hội nhà Văn 2009) với 42 bài viết trong phần Tình Thơ và 9 bài của học trò đồng nghiệp trong phần Tri Âm cuối sách. Trong Ngày Thơ Việt Nam dịp Nguyên Tiêu Canh Dần 2010 vừa rồi tôi đã thấy những em học sinh trường chuyên Lê Quý Đôn hớn hở nâng niu quyển sách như một món quà quý đầu Xuân tíu tít ùa đến bên thầy để xin chữ ký tác giả. Như vậy thầy lại có thêm bao nhiêu thế hệ học trò mới có thêm niềm vui đem thi ca đến với cuộc sống hôm nay. Và chắc chắn những điều gửi gắm trong quyển sách này sẽ còn được nhiều lứa học trò nữa tiếp nhận tri âm. Của tin còn một chút này...

Cách bình thơ của thầy Trương Tham là một phong cách không thể lẫn với bất cứ ai. Không cần bóc tách tỉ mẩn câu chữ mà đi từ những chiêm nghiệm khái quát những ý vị cô đọng nhất của tác phẩm để từ đó thẩm định giá trị của bài thơ lột tả thần thái trong tứ thơ và chỉ ra đúng tạng thơ của tác giả. Để làm được điều đó người bình đã phải nghiền ngẫm công phu lao tâm khổ tứ có những bài viết phải trăn trở hàng năm trời có những tứ thơ thầy từng nghĩ và trao đổi với đồng nghiệp học trò từ hàng chục năm bây giờ mới thành bài viết. Bởi vậy mà có những lời bình thật đắt giá. Các bài bình Tình ca ban mai (Chế Lan Viên) Ngày Xuân dạy các con (Nguyễn Khuyến) Trường huyện (Nguyễn Bính) Tiếng chim tu hú (Anh Thơ) Tình sông núi(Trần Mai Ninh Đôi mắt người Sơn Tây (Quang Dũng)...là những trường hợp như vậy.

Bên cạnh những bài thơ nổi tiếng những bài trong chương trình phổ thông đã quen thuộc thầy còn chứng tỏ một sức đọc và cảm sâu rộng đáng trân trọng khi chịu khó tìm những bài thơ hay những tác giả đương đại và cả những gương mặt thơ mới xuất hiện và có triển vọng những năm gần đây. Đây cũng là điều đáng ghi nhận ở một tâm hồn nhà giáo - nghệ sĩ khi không để cho thời gian lấy đi độ nhạy và vẻ thanh xuân của tâm hồn. Tất nhiên có thể có những ý những bài chưa thật thỏa mãn người đọc thế nhưng một sự khai phá gợi mở của thầy sẽ tiếp tục bắt ta phải suy nghĩ tìm tòi cùng khám phá tiếp những tầng nghĩa ẩn sâu trong văn bản. Tôi bắt gặp trong tập sách này những niềm đồng cảm giữa người bình thơ và nhà thơ như những chia sẻ chiêm nghiệm xin được trích đôi dòng: "Đến Mây trắng không khí hồ hởi tin yêu Nắng mênh mông trong mắt chúng tôi cười Tôi xin làm một con tằm như lắng lại. Cả tập thơ man mác một nỗi buồn mây trắng với những trăn trở suy tư về thế sự về những diễn biến phức tạp của đời sống. Không phải nhà thơ đã đi vào tuổi mây trắng mà vì bên cạnh những cái được lớn lao chúng ta có những cái mất không nhỏ" (Lời bình tập Mây trắng của Lệ Thu) còn đây là những lời dành cho tập Bóng trúc (Văn Trọng Hùng): "Thơ Văn Trọng Hùng là tiếng nói của đời sống vì cuộc sống mà có. (...) Chí ít cũng là những ước mong mình được sống thực là mình. Tất cả những nét đó như từ trong tâm hồn cốt cách của nhà thơ bộc lộ một cách tự nhiên qua những bài thơ của anh". Với các bài thơ Trương Chi (Quang Vĩnh Khương) Giấc mơ hoa ban trắng (Mai Thìn) Cảm quê (Tăng Hữu Thơ)... cũng có những khoảnh khắc đồng điệu như vậy! Người làm thơ có những tri âm còn gì quý hơn!

Không chỉ vậy người viết cũng tỏ ra ưu ái với những cây bút trẻ có phát hiện động viên quý báu. Chẳng hạn những lời bình dành cho nhà thơ trẻ Ngô Liêm Khoan: "Ngô Liêm Khoan có cách nói riêng của mình anh không chỉ phê phán mà rất thể tất trong cách nhìn nhận vấn đề. Chính những tâm hồn già cỗi những gương mặt vô hồn kia cũng có nỗi đau riêng của nó. Còn gì xót xa bằng khi ‘chợt nhận ra mình từ những cánh đang rơi . Muốn giữ mà không giữ nổi như một sự giằng co trên vết trượt dài. Là cách nhìn thấu đáo của một người cầm bút" (Lời bình Giọt mưa giữa nắng). Hay như việc nhặt ra những câu thơ tứ thơ hay trong tập thơ Nguyên Tiêu của Hội VHNT Bình Định của các tác giả Phổ Đồng Vũ Đình Thung... tác giả để lại lời bình thật tâm đắc: "Lời thơ bình dị đến trong sáng như buột miệng nói ra. Tất cả đều lặng lẽ ở bên ngoài bên trong nén chặt biết bao mất còn tàn úa lớn lên...là quy luật tất yếu của đời sống. với nỗi mừng niềm vui nỗi buồn khắc khoải...bao nhiêu tâm trạng. Để rồi tất cả đọng lại một mùi hương bất tử với thời gian." (bình Lặng lẽ của Vũ Đình Thung)

Đồng thời với việc thẩm thơ thưởng thơ làm sang cho thơ vẫn là một thái độ sòng phẳng thẳng thắn trong những bài trao đổi của thầy khi phê những câu thơ những cách đối xử với thơ thiếu trân trọng cùng với những băn khoăn từ góc nhìn của một thầy giáo dạy Văn lâu năm có lương tâm với nghề nghiệp. Điều đó như một phản hồi từ phía nhà trường với người biên soạn chương trình sách giáo khoa cũng là việc làm cần thiết vì quyền lợi học sinh.

Bình thơ để giãi bày thái độ sống đắm đuối với thơ để tiếp tục chuyển tải những suy ngẫm bình giá đến với thế hệ sau khi bản thân thầy từ lâu đã là một ông giáo hồi hưu đó cũng là một lựa chọn để luôn tự làm mới mình để giữ tâm hồn mãi được thanh xuân của nhà giáo ưu tú Trương Tham! Trân trọng cảm ơn thầy!

Quy Nhơn tháng 3 năm 2010

(*) (Thơ & bình thơ của nhà giáo ưu tú Trương Tham - NXB Hội Nhà văn 2009)

More...

Bình giảng ĐẤT QUÊ TA MÊNH MÔNG

By Trần Hà Nam

Bình giảng bài thơ ĐẤT QUÊ TA MÊNH MÔNG (Dương Hương Ly)

Những năm tháng hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ đã qua lâu. Nhưng những dấu ấn của thời đại ấy vẫn ghi lại đầy đủ trong tâm trí bao lớp người. Chất thơ của một thời hùng vĩ cao cả dường như kết tinh trong hình tượng người mẹ để cho các nhà thơ nhạc sĩ ngợi ca. Có một bài thơ đã ra đời trong những ngày tháng ấy được phổ nhạc để vút lên âm điệu đầy xúc động về người mẹ: Đất quê ta mênh mông của Dương Hương Ly. Cái hay của bài thơ chính là ở tình cảm xúc động và giản dị.

Không phải ngẫu nhiên khi nhan đề bài thơ là "Đất quê ta mênh mông" nhưng hình tượng xuyên suốt bài thơ lại là Bà mẹ đào hầm. Nhà thơ có sự liên tưởng từ thực tế công việc của mẹ nhưng cảm hứng này cũng gắn liền cảm hứng trữ tình công dân của thi ca chống Mỹ. Tố Hữu từng viết:

Việt Nam ôi Tổ quốc thương yêu

Trong khổ đau người đẹp hơn nhiều

Như bà mẹ sớm chiều gánh nặng

Nhẫn nại nuôi con suốt đời im lặng

Dương Hương Lylà nhà thơ - chiến sĩ hoạt động trên chiến trường miền Trung - Tây Nguyên là người trực tiếp chứng kiến và chịu ơn sự hy sinh lặng thầm của những người mẹ nên có lẽ cảm hứng về Đất nước giàu ấn tượng từ người mẹ cũng là điều dĩ nhiên.Người Mẹ bình thường nhưng vĩ đại đã hiện lên trong những dòng thơ đầy ám ảnh kết tinh vẻ đẹp của cả một thời đại chống Mỹ.

Bài thơ bắt đầu từ một câu chuyện được kể lại ngắn gọn giản dị:

Mẹ đào hầm từ thuở tóc còn xanh

Nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc

Mẹ vẫn đào hầm dưới tầm đại bác

Bao đêm rồi tiếng cuốc vọng năm canh

Giản đơn là vậy việc đào hầm của mẹ! Nhưng có sự bất bình thường ở chỗ nhà thơ xâu chuỗi hai khoảng thời gian "tóc còn xanh" đến khi "phơ phơ đầu bạc". Công việc diễn ra thật âm thầm lặng lẽ hòa cùng không gian của bóng đêm bền bỉ miệt màikhông ngừng nghỉ. "Bao đêm rồi..." lời thơ như một câu hỏi vọng lên để nhà thơ bày tỏ lòng kính phục sự kiên trì nhẫn nại của mẹ. Hai âm thanh được diễn tả thật khác nhau: một bên là "đại bác" một bên là "tiếng cuốc vọng năm canh".Hóa ra việc đào hầm ấy không hề đơn giản vì đã đối mặt thách thức sự hủy diệt của kẻ thù.

"Tiếng cuốc vọng năm canh" là âm vang tấm lòng người mẹ để những đứa con dưới hầm bí mật và nhà thơ nhận ra một ý nghĩa thật lớn lao:

Đất nước mình hai mươi năm chiến tranh

Tiếng cuốc năm canh nặng tình đất nước

Hầm mẹ giăng như lũy như thành

Che chở mỗi bước chân con bước

Hai mươi năm -đủ để một thế hệ lớn lên hai mươi năm - cũng là thời gian cả dân tộc phải đốiđầu với sự hủy diệt của kẻ thù để bảo vệ nền độc lập tự do. Có một điều nhà thơ không nói rõ nhưng người đọc có thể nhận ra: đó cũng là thời gian đằng đẵngnhuộm mái tóc xanh của mẹ thành "phơ phơ đầu bạc" - một thời xuân sắc đã điqua. Niềm vui của mẹ tình yêu đời mẹ nằm trong "tiếng cuốc năm canh" đều đều như nhịp tim thôi thúc. Dương Hương Ly dồn hết tình cảm vào câu thơ ngợi catình mẹ - "nặng tình đất nước". Câu thơ không phải cách so sánh thông thường màchứa đựng niềm cảm phục kính yêu của những đứa con chiến sĩ. Thành quả của mẹ công sức của mẹ là ở những chiếc hầm bí mật "giăng như lũy như thành". Sức vócmảnh mai của người mẹ "phơ phơ đầu bạc" vụt lớn lao thành sức mạnh Nhân Dân.

Từ niềm vuisứơng biết ơn của một đứa con được bao bọc chở che trong tình yêu của mẹ nhàthơ chợt phát hiện ra một điều tưởng như nghịch lý:

Đất quê ta mênh mông

Quân thù không xăm hết được

Lòng mẹ rộng vô cùng

Đủ giấu cả hàng sư đoàn dưới đất

Nơi hầm tối lại là nơi sáng nhất

Nơi con tìm ra sức mạnh Việt Nam

Như một chân lý giản đơn khi thế trận của lòng dân "giăng như lũy như thành" kẻ thù phải bó tay bất lực. Tác giả lại đưa ra một liên tưởng đầy ấn tượng từ "lòng mẹ" đến "lòng đất mẹ". Xưa có câu chuyện mẹ Âu Cơ bọc lũ con trong bọc trăm trứng nay người mẹ đào hầm bao bọc "cả hàng sư đoàn". Phải chăng tác giả cũng đangnghĩ về một mẹ Âu Cơ của thời đại chống Mỹ? Duy có một điều khác chăng là ngườimẹ ở đây không bước ra từ huyền thoại mà bằng xương bằng thịt bằng tất cả sựbao dung của tình yêu nước lớn lao. Đó cũng là cơ sở để nhà thơ nhận ra "sức mạnh Việt Nam" từ một nghịch lý "Nơi hầm tối lại là nơi sáng nhất". Sức mạnh của dân tộc tạo nên từ ơn sinh thành của người mẹ sức mạnh ấy hội tụ cả lòng nhân ái và chủ nghĩa anh hùng. Từ cảm nhận này của Dương Hương Ly ta chợt nhớ đến một lời ca ngợi của đại văn hào Nga M.Gorki : "Không có Người Mẹ thì cả anh hùng cả nhà thơ đều không có. Sức mạnh Việt Nam - dân tộc anh hùng và nghệ sĩ- đã bắt nguồn từ người mẹ bình thường mà vô cùng vĩ đại có lẽ đó là đều nhà thơ phát hiện được từ công việc âm thầm của mẹ.

Cuộc sinh nởnào mà chẳng đớn đau! Nhưng nỗi đau của mẹ lại gắn với những trận đòn thù của bầy giặc Mỹ điên cuồng hèn hạ và bất lực. Có thể tác giả đã hơi tham lam khi đưa thêm vào chi tiết để tố cáo tội ác của kẻ thù cũng như để ngợi ca ý chí kiên cường của mẹ. Không một người mẹ bình thường nào lại không sẵn sàng chịu đau vì những đứa con mình. Sự lặng yên của mẹ là cái lặng im của đất. Ta có thể nhận ra ở đây nỗi đau đớn xót xa của những đứa con chiến sĩ cũng như quyện chặt vào cùng đất mẹ như chờ phút bùng lên rửa hận. Còn mẹ thì vẫn thế:

Trên mình mẹ mang nhiều thương tật

Tóc mẹ bạc rồi lại bạc thêm

Nhưng đêm đêm

Tiếng nhát cuốc vẫn xóay vào ruột đất

Trong tiếng cuốc của mẹ có cả nỗi đau xoáy ruột của cả những đứa con. Tiếng cuốc như thôi thúc như giục giã lòng con quyết sống mái với kẻ thù.

Để rồi sức mạnh của mẹ truyền cả cho những đứa con:

Có những đoàn quân từ lòng đất xông lên

Quân thù bạt vía

Xung quanh chúng đâu cũng là trận địa

Đất quê ta mênh mông

Lòng mẹ rộng vô cùng

"Diệt Mỹ là cao cả của tình yêu" chỉ có chiến đấu tiêu diệt kẻ thù mới là sự đáp lại đầy đủ nhất tình mẹ dành cho những người chiến sĩ. Sự che chở âm thầm sự hy sinhlớn lao của mẹ dành cho những đứa con dưới hầm bí mật đã góp thêm sức mạnh khiến "quân thù bạt vía". Một lần nữa điệp khúc "Đất quê ta mênh mông - Lòng mẹ rộng vô cùng" lại cất lên như một vĩ thanh để người đọc nhận ra ý nghĩa cao cả của cuộc chiến đấu chống Mỹ vì Đất quê ta vì Mẹ vì những tình cảm lớn lao.Và một lần nữa vóc dáng của Mẹ đã lớn mênh mông ngang tầm Đất Nước.

"Đất quê ta mênh mông" của Dương Hương Ly chỉ là một cảm nhận rất riêng của nhà thơ về sứcmạnh vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thời đại chống Mỹ qua hình tượng Người Mẹ đào hầm. Nhưng hình tượng bất tử của Mẹ đã vượt qua thời gian để lưu lại mãitrong những lời ca dạt dào về mẹ. Đó cũng là nguồn cảm hứng về một thời đại giàu chất sử thi mà sau này một lần nữa ta còn gặp trong lời ca về mẹ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn "Mẹ về đứng dưới mưa che từng căn hầm nhỏ...". Hình tượng người mẹ - đất nước trong thời đại chống Mỹ sẽ mãi còn là nguồn cảm hứng nghệ thuật bất tận.

Hiểu bài thơ để chúng ta hiểu hơn về một thời đại hào hùng của dân tộc. Ta cũng hiểu tấm lòng rất đẹp của một nhà thơ - chiến sĩ dành cho mẹ cho Tổ quốc. Từ tình yêu của mẹ ta hiểu vì sao đất nước đối với ta lớn lao nhưng gần gũi thân thương vôcùng.

Giờ đây mỗi khi giai điệu bài ca về người mẹ đào hầm vang lên trên sóng phát thanh đài truyền hình vang lên đâu đó giữa đời thường bộn bề toan lo hối hả hình ảnh mẹ "phơ phơ đầu bạc" trong bài thơ Dương Hương Ly lại hiện lên lồng lộng trong tâm trí như một lời nhắc nhớ mỗi chúng ta...

                                    Qui Nhơn 2006 - 2010

                                                T.H.N

 

More...