Sign up

Có một Hữu Loan - Đèo Cả...

tranhanam 19 March, 2010 16:40 Bài viết Đường dẫn cố định Trackbacks (0)
Nghe tin ông ra đi ở tuổi 95, vẫn cảm thấy có cảm giác ngậm ngùi, dù biết là quy luật không thể cưỡng lại thời gian. Ông không có một tập thơ để đời, nhưng có những bài thơ đã đi vào trong ký ức bao thế hệ. Tôi không muốn nói nhiều về Màu tím hoa sim - bài thơ gắn liền thiên tình sử bi tráng thời kháng chiến. Tôi nghĩ về ông như một nhân cách sững sững, với Đèo Cả ngạo nghễ một dáng đứng trên văn đàn!
Tôi nghĩ, với bài thơ góp mặt trong 100 bài thơ hay nhất thế kỷ XX này, Hữu Loan cũng đã ghi một dấu ấn thế hệ của một lớp người yêu Tổ quốc đến đắm đuối, thật kiên cường và bình thản trước bao biến cố cuộc đời! Đọc Đèo Cả, vẫn thấy lồng lộng một nhân cách Hữu Loan. Xin được tưởng nhớ ông bằng việc đọc lại những vần thơ réo sôi nhiệt huyết này!
Đèo Cả - Hữu Loan

Đèo Cả!
Đèo Cả!
Núi cao ngút!
Mây trời Ai Lao
....................sầu đại dương
Dặm về heo hút
Đá Bia mù sương
Bên quán "Hồng quân"
..............................người
......................................ngựa
.............................................mỏi
Nhìn dốc ngồi than
..........................thương
....................................ai
.......................................lên
............................................đường
Chầy ngày
...............lạc giữa núi
Sau chân
.............lối vàng
........................xanh tuôn
Dưới cây
............bên suối độc
Cheo leo chòi canh
..........................như biên cương
Tóc râu
...........trùm vai rộng
Không nhận ra
....................người làng
Ngày thâu
..............vượn hú
Đêm canh
..............gặp hùm lang thang
Rau khe
...........cơm vắt
Áo phai
...........màu chiến trường
Gian nguy
..............lòng không nhạt
Căm thù
............trăm năm xa
Máu thiêng
.............. sôi dào dạt
Từ nguồn thiêng
...................... ông cha
"Cần xây chiến lũy ngất
Đây hình hài niên hoa
- Xâm lăng!
Xâm lăng!
Súng thèm
...............gươm khát..."
Ai ngân lung lay
.....................đêm quê nhà
Nhớ lần thăm Đèo Cả
Hậu phương từ rất xa
Ăn với nhau bữa
......................heo rừng
..................................công thui
...............................................chấm muối
Trên sạp cây rừng
Ngủ chung
...............nửa tối
Biệt nhau
.............đèo heo
.........................canh gà
Râu ngược
...............chào nhau
.............................bên dốc núi.
Giặc từ Vũng Rô
...................... bắn tới
Giặc từ trong
...................tràn ra
Nhưng Đèo Cả
....................vẫn đứng vững
Đèo Cả Nam
.................máu giặc
.............................mấy
...................................lần
.......................................nắng
..............................................khô
Sau mỗi lần thắng
Những người trấn Đèo Cả
Về bên suối đánh cờ
Người hái cam rừng
......................... ăn nheo mắt
Người vá áo
................thiếu kim
........................... mài sắt
Người đập mảnh chai
............................vểnh cằm
........................................ cạo râu
Suối mang bóng người
..............................soi
..................................những
..........................................về đâu
(1947)

Đọc "Thơ và Bình Thơ"

tranhanam 14 March, 2010 18:05 Bài viết Đường dẫn cố định Trackbacks (0)

Trong cuộc sống, có lẽ một trong những điều đáng sợ là sự lãng quên. Có bao nhà thơ, bài thơ tưởng đã chìm vào quá vãng. Tuy nhiên, có người đã lặng lẽ ghi dấu ấn của mình vào cuộc đời bằng con đường văn chương nghệ thuật, với tư cách một người bạn đường, tôn vinh những giá trị thi ca qua sự trải nghiệm tâm huyết bền bỉ suốt nửa thế kỷ. Vẫn giữ một mối tình thơ khi tuổi đang cận kề thất thập, kể cũng là một điều hiếm hoi!

Sau "Cảm nhận và Bình thơ" - tác phẩm đoạt hạng A giải Xuân Diệu - Đào Tấn, nhà giáo ưu tú Trương Tham lại tiếp tục trình làng công trình mới, chắt lọc những bài bình thơ tâm đắc cũng như những cảm nhận mới mẻ trong quyển sách "Thơ và Bình thơ" (NXB Hội nhà Văn, 2009), với 42 bài viết trong phần Tình Thơ và 9 bài của học trò, đồng nghiệp trong phần Tri Âm cuối sách. Trong Ngày Thơ Việt Nam dịp Nguyên Tiêu Canh Dần 2010 vừa rồi, tôi đã thấy những em học sinh trường chuyên Lê Quý Đôn hớn hở nâng niu quyển sách như một món quà quý đầu Xuân, tíu tít ùa đến bên thầy để xin chữ ký tác giả. Như vậy, thầy lại có thêm bao nhiêu thế hệ học trò mới, có thêm niềm vui đem thi ca đến với cuộc sống hôm nay. Và chắc chắn những điều gửi gắm trong quyển sách này sẽ còn được nhiều lứa học trò nữa tiếp nhận, tri âm. Của tin còn một chút này...

Cách bình thơ của thầy Trương Tham là một phong cách không thể lẫn với bất cứ ai. Không cần bóc tách tỉ mẩn câu chữ, mà đi từ những chiêm nghiệm khái quát, những ý vị cô đọng nhất của tác phẩm, để từ đó thẩm định giá trị của bài thơ, lột tả thần thái trong tứ thơ và chỉ ra đúng tạng thơ của tác giả. Để làm được điều đó, người bình đã phải nghiền ngẫm công phu, lao tâm khổ tứ, có những bài viết phải trăn trở hàng năm trời, có những tứ thơ thầy từng nghĩ và trao đổi với đồng nghiệp, học trò từ hàng chục năm bây giờ mới thành bài viết. Bởi vậy mà có những lời bình thật đắt giá. Các bài bình Tình ca ban mai (Chế Lan Viên), Ngày Xuân dạy các con (Nguyễn Khuyến), Trường huyện (Nguyễn Bính), Tiếng chim tu hú (Anh Thơ), Tình sông núi(Trần Mai Ninh, Đôi mắt người Sơn Tây (Quang Dũng)...là những trường hợp như vậy.

Bên cạnh những bài thơ nổi tiếng, những bài trong chương trình phổ thông đã quen thuộc, thầy còn chứng tỏ một sức đọc và cảm sâu rộng đáng trân trọng khi chịu khó tìm những bài thơ hay, những tác giả đương đại và cả những gương mặt thơ mới xuất hiện và có triển vọng những năm gần đây. Đây cũng là điều đáng ghi nhận ở một tâm hồn nhà giáo - nghệ sĩ khi không để cho thời gian lấy đi độ nhạy và vẻ thanh xuân của tâm hồn. Tất nhiên, có thể có những ý những bài chưa thật thỏa mãn người đọc, thế nhưng một sự khai phá gợi mở của thầy sẽ tiếp tục bắt ta phải suy nghĩ, tìm tòi, cùng khám phá tiếp những tầng nghĩa ẩn sâu trong văn bản. Tôi bắt gặp trong tập sách này những niềm đồng cảm giữa người bình thơ và nhà thơ, như những chia sẻ chiêm nghiệm, xin được trích đôi dòng: "Đến Mây trắng, không khí hồ hởi tin yêu Nắng mênh mông trong mắt chúng tôi cười, Tôi xin làm một con tằm như lắng lại. Cả tập thơ man mác một nỗi buồn mây trắng với những trăn trở, suy tư về thế sự, về những diễn biến phức tạp của đời sống. Không phải nhà thơ đã đi vào tuổi mây trắng mà vì bên cạnh những cái được lớn lao chúng ta có những cái mất không nhỏ" (Lời bình tập Mây trắng của Lệ Thu), còn đây là những lời dành cho tập Bóng trúc (Văn Trọng Hùng): "Thơ Văn Trọng Hùng là tiếng nói của đời sống, vì cuộc sống mà có. (...) Chí ít cũng là những ước mong mình được sống thực là mình. Tất cả những nét đó như từ trong tâm hồn cốt cách của nhà thơ bộc lộ một cách tự nhiên qua những bài thơ của anh". Với các bài thơ Trương Chi (Quang Vĩnh Khương), Giấc mơ hoa ban trắng (Mai Thìn), Cảm quê (Tăng Hữu Thơ)... cũng có những khoảnh khắc đồng điệu như vậy! Người làm thơ có những tri âm, còn gì quý hơn!

Không chỉ vậy, người viết cũng tỏ ra ưu ái với những cây bút trẻ, có phát hiện động viên quý báu. Chẳng hạn những lời bình dành cho nhà thơ trẻ Ngô Liêm Khoan: "Ngô Liêm Khoan có cách nói riêng của mình, anh không chỉ phê phán mà rất thể tất trong cách nhìn nhận vấn đề. Chính những tâm hồn già cỗi, những gương mặt vô hồn kia cũng có nỗi đau riêng của nó. Còn gì xót xa bằng khi ‘chợt nhận ra mình từ những cánh đang rơi'. Muốn giữ mà không giữ nổi như một sự giằng co trên vết trượt dài. Là cách nhìn thấu đáo của một người cầm bút" (Lời bình Giọt mưa giữa nắng). Hay như việc nhặt ra những câu thơ tứ thơ hay trong tập thơ Nguyên Tiêu của Hội VHNT Bình Định của các tác giả Phổ Đồng, Vũ Đình Thung..., tác giả để lại lời bình thật tâm đắc: "Lời thơ bình dị đến trong sáng như buột miệng nói ra. Tất cả đều lặng lẽ ở bên ngoài, bên trong nén chặt, biết bao mất còn, tàn úa, lớn lên...là quy luật tất yếu của đời sống. với nỗi mừng, niềm vui, nỗi buồn, khắc khoải...bao nhiêu tâm trạng. Để rồi tất cả đọng lại một mùi hương bất tử với thời gian." (bình Lặng lẽ của Vũ Đình Thung)

Đồng thời với việc thẩm thơ, thưởng thơ, làm sang cho thơ vẫn là một thái độ sòng phẳng thẳng thắn trong những bài trao đổi của thầy, khi phê những câu thơ, những cách đối xử với thơ thiếu trân trọng, cùng với những băn khoăn từ góc nhìn của một thầy giáo dạy Văn lâu năm có lương tâm với nghề nghiệp. Điều đó như một phản hồi từ phía nhà trường với người biên soạn chương trình, sách giáo khoa, cũng là việc làm cần thiết vì quyền lợi học sinh.

Bình thơ để giãi bày thái độ sống đắm đuối với thơ, để tiếp tục chuyển tải những suy ngẫm bình giá đến với thế hệ sau, khi bản thân thầy từ lâu đã là một ông giáo hồi hưu, đó cũng là một lựa chọn để luôn tự làm mới mình, để giữ tâm hồn mãi được thanh xuân của nhà giáo ưu tú Trương Tham! Trân trọng cảm ơn thầy!

Quy Nhơn, tháng 3 năm 2010

(*) (Thơ & bình thơ của nhà giáo ưu tú Trương Tham - NXB Hội Nhà văn 2009)


Trần tộc đại tôn từ đường

tranhanam 12 March, 2010 01:37 Hình ảnh Đường dẫn cố định Trackbacks (0)

Hình ảnh trong lễ Tế hiệp Trần tộc Đại tôn từ đường Mạnh phái Cảnh Vân (Phước Thành, Tuy Phước, Bình Định) vào dịp 12 tháng Giêng Canh Dần:
- Hình tư liệu các bậc tiền hiền trong họ
- Các ban thờ văn võ phát khoa, đông, tây...
- Lễ gặp mặt bà con họ tộc Mạnh phái và Trọng phái Mỹ Á (Phú Yên) và Quý phái Phú Hiệp (Phú Yên)
- Lễ trao học bổng cho con cháu nội ngoại họ Trần học giỏi, vượt khó bậc phổ thông và đại học.


Hai mươi năm tình thơ

tranhanam 11 March, 2010 16:38 Chuyện làng Văn Đường dẫn cố định Trackbacks (0)
Tặng thi huynh Trần Lễ
tl-n
Hai mươi năm rồi nhỉ
Giờ râu tóc bạc phơ
Quen nhau từ thủơ ấy
Huynh vẫn đậm tình thơ
Vẫn là anh Trần Lễ
Giai nhân hoài say mơ
Cười rưng rưng ngấn lệ
Duyên thơ không bến bờ!

Bao giờ Lê Hoài Lương mới hết nỗi oan?

tranhanam 09 March, 2010 08:07 Chuyện làng Văn Đường dẫn cố định Trackbacks (0)
Theo thông tin từ phía bạn bè, thậm chí chúng tôi còn có cả bản sao của Quyết định UBND Tỉnh đình chỉ thi hành Quyết định 94 của Hội VHNT Bình Định về việc khai trừ nhà văn Lê Hoài Lương, cùng yêu cầu thực hiện vào 30.12.2009. Nhưng đến hôm nay 09.3.2010, Chi hội Văn học cũng như Lê Hoài Lương chưa hề có một thông báo nào từ phía những người Quyết định khai trừ anh. Quyền lợi và danh dự Hội viên bị xúc phạm nghiêm trọng,ông Nguyễn Thanh Mừng chủ tịch Hội viện hết lý do nàyđếnn lý do nọ để lẩn tránh trách nhiệm của mình. Trong khiđó, khi ra Quyết định khai trừ, ông đã tỏ ra sốt sắng đặc biệt khi không cần chờ có đủ mặt BCH, khi nhà văn Lê Hoài Lương còn đang đi thực tế sáng tác ở đảo Nhơn Châu thì đã có sẵn Quyết định, rồi sau đó ông đăng đàn bảo không phải thanh trừng cá nhân,dùng ông Văn Thinh viết các đơn thư khiếu tố (mà những lời lẽ vu khống này đủ để chúng tôi kiện ông ra Toà!). Chi hội Văn học từ khi bầu ra BCH mới không phù hợp ý đồ của  lãnh đạo Hội  đã bị vô hiệu hoá, cản trở hoạt động tuyệt đối, và với hành động  coi thường kỷ cương phép nước này, một lần nữa,ông Mừng và BCH Hội đã chà đạp lên chi hội văn học, xúc phạm danh dự và nhân phẩm chi hội trưởng, công dân Lê Hoài Lương.
   Chúng tôi mong kỷ cương phép nước được thực hiện nghiêm minh, và mọi việc ở Hội VHNT phải được công khai minh bạch. Ngay cả việc ông Mừng còn tại vị, sau cuộc họp điều chuyển ông qua Ban Tuyên giáo, thay thế bằng ông Nguyễn An Pha, nhưng ông Mừng vẫn nghiễm nhiên ngồi ghế Chủ tịch, không hề có thông báo lại cho toàn thể hội viên cũng là điều khó hiểu. Không lẽ ở tỉnh Bình Định có kiểu làm việc theo cảm tính?

TRẦN HÀ NAM
(UVBCH CHI HỘI VĂN HỌC)

Phiêu...

tranhanam 05 March, 2010 17:23 Hình ảnh Đường dẫn cố định Trackbacks (0)
Tết Canh Dần có vài niềm vui nho nhỏ. Vui nhất là mình làm giọng ca già lên sân khấu cùng ông bạn Minh Hà (có lẽ là giọng song ca già nhất của ngành giáo dục). Hơi không sung sức như thời trước, nhưng vì lỡ hứa với bà chị chủ tịch công đoàn nên liều mạng xông lên cùng NGẪU HỨNG SÔNG HỒNG! Thôi thì cứ "xô cửa xông vào liều mình như chẳng có", trước khi lên sân khấu chích thuốc liều vào cổ họng, may ra ... Có gì thì đã có sẵn lời của Sir A. Ferguson: "Phong độ là nhất thời, đẳng cấp là mãi mãi!".
Ai dè khi công bố kết quả, đoàn văn nghệ Lê Quý Đôn đại thắng với ba tiết mục đều giành giải Nhất (đơn ca - song ca - tốp ca), giành luôn Nhất toàn đoàn!!!
Hôm nay coi hình, mới thấy hai anh già lên sân khấu cũng còn ...hoành tráng lắm! Chọn vài tấm hình phiêu nhất, khè bà con chơi!



VÀ SOLO TRONG ĐỒNG CA

DONGCA

CLBVH Lê Quý Đôn tham gia Ngày Thơ

tranhanam 03 March, 2010 07:57 Hình ảnh Đường dẫn cố định Trackbacks (0)
Ngày Thơ Việt Nam lần thứ VIII, sự tham gia của CLBVH trường Lê Quý Đôn đã góp vào thành công của một ngày lễ hoành tráng và xúc cảm. Thạc sĩ Trần Hà Nam, giáo viên Văn, Phó chủ nhiệm CLBVH Xuân Diệu thiết kế chương trình buổi chiều và kịch bản MC buổi tối(cùng hội viên hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Mỹ Nữ) , trình bày thư pháp cho phần thơ thả lên trời, đồng thời cũng là người dẫn chương trình buổi chiều và buổi tối. Cô Lê Thị Kim Tuyết cùng các học sinh lớp 10 Văn - Anh và 11 chuyên Văn làm nòng cốt trong hoạt động buổi chiều như: múa Bông Sen, tham gia bán quầy sách cho CLB Xuân Diệu, đốt pháo sáng và làm lễ thả bong bóng thơ. Đồng thời, tại buổi giao lưu thơ chiều Nguyên Tiêu, có 6 tiết mục thơ của 5 học sinh được trình bày gồm:
- Lê Đức Hoàng Vân, học sinh lớp 11 chuyên Văn, hội viên trẻ nhất của CLB Xuân Diệu, 2 bài
- Hà Thanh Hưng 12V
- Lê Thị Diễm Lệ, 10A1
- Trần Thị Kiều, 11S-Đ
- Hà Kiều My, 10A
Sau đây là một số hình ảnh GV và học sinh Lê Quý Đôn tại hội thơ:

HỌC SINH Ở QUẦY SÁCH

ÔNG CHÁU (Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn viết thư pháp chữ Hán và Đỗ Lê Bảo Duyên lớp trưởng 10V-A)
 Đọc thơ (Lê Đức Hoàng Vân)

Múa BÔNG SEN (11V)

THẢ THƠ

NGHE THƠ

Này thì chân dung tớ năm Canh Dần

tranhanam 22 February, 2010 22:39 Riêng tư Đường dẫn cố định Trackbacks (0)
Hì hì, đầu năm Canh Dần thấy mình đã bị bày lên thớt, với một chân dung không thể "sốc hàng" hơn! Đây cũng là thành quả đầu tiên của con gái lớp trưởng tặng bố! Thôi thì tự ngắm lại mình, đâu có đến nỗi nào! Chẳng qua là do ông con cao kều của mình gọi mà đâm ra thành chết tên "bụng bự".

Tặng bố Nam bụng bự

AT - Ngay từ buổi học đầu tiên, ấn tượng về bố là một dáng người nhanh nhẹn, ánh mắt lúc nào cũng nhìn chúng con lom lom như thể chuẩn bị kêu lên kiểm tra bài.

 (Xem tiếp)

Thế sự thăng trầm quân mạc vấn

tranhanam 16 February, 2010 23:30 Riêng tư Đường dẫn cố định Trackbacks (0)
Bây giờ thì tôi ngồi đây, trước màn hình vi tính này, ngẫm nghĩ lại chuyện đời mà than rằng: Mạc sầu tiền lộ vô tri kỉ!
Ô hay! Đời mới hơn bốn chục cái xuân xanh mà đã ưu thời mẫn thế vậy ư? Tự cười mình kha khả mà rằng: ta còn may lắm, may lắm!
Này, vợ đẹp con khôn, gia tài chẳng đáng là bao mà vẫn có thể vênh vang cùng thiên hạ. So ra mình chẳng bằng ai mà cũng chẳng ai bằng mình, học theo Kim Thánh Thán mà rằng: chẳng cũng sướng sao!
Này, nhà tớ nghèo nhưng tính tớ khái, lại học tiền nhân mà rằng: Những thằng bất nghĩa xin đừng đến - Hãy để thềm ta xanh sắc rêu!
Mới hay, tuổi càng lớn thì những người thực sự thương ta càng ít, nên đừng vội trách ai bạc lòng, vì ta có chung thủy đâu? Rồi đời khép lại, một sắc rêu phong! Một mai mái đầu bạc phếu. nhìn quanh quất rồi chợt nhận ra: ta đã già mà chưa lớn! Để rồi cứ mãi ngẩn ngơ!
Vì lớn thật sự thì bất chấp thị phi, sống theo sở dục. Mà mình đã kịp già đâu để cho phải băn khoăn vì một chút ơ hờ?
Thôi thì cứ sống, như mình hằng sống, để biết rằng đời vô thủy vô chung. Để biết rằng mỗi phút giây được sống là mình hiểu thêm đời này vốn dĩ khát yêu thương!

(Viết trong lúc say)

MỒNG 1 VỀ QUÊ

tranhanam 14 February, 2010 16:53 Riêng tư Đường dẫn cố định Trackbacks (0)
Mồng 1 Tết về quê.
Thắp hương mừng tuổi ông bà và quyến thuộc. Cõi tâm linh luôn là một điều thiêng liêng trong ngày đầu năm mới.
Năm nay Cha yếu nhiều, không đi đâu. Lại thêm Má bị đau từ 28 tháng Chạp còn cấp cứu, ở nhà chị Hai tại Tuy Phước. Dẫu rằng ngày đầu năm đã về ở nhà anh chị Hai chờ điều trị, nhưng mình chưa đi thăm được (mình vẫn còn tang Mẹ) vì còn kiêng. Thắp hương trước bàn thờ tiên tổ, cầu mong gia đình vững bền, mọi chuyện buồn phiền năm cũ qua đi.
Các con cháu về đông đủ, trừ anh chị Hai còn phải chăm Má dưới thị trấn, nhưng có gia đình cháu Hằng đại diện. Vợ chồng Hùng - Hảo, Hùng - Thư, Hiếu con Tuyến, gia đình cô Tứ về sau...
Ngày đầu tiên Tết Canh Dần chụp vài tấm ảnh kỷ niệm:

Sau giao thừa: 35 năm, Cha mới sum họp giao thừa với các con ở Quy Nhơn (Ảnh chụp di động)

Cha và anh Thanh (ảnh di động)

Vợ chồng bác Ba

Hai cháu nội lớn: Ngạn - Uy

Hai anh em: Uy - Lương (Lương buồn ngủ, hihi!)

Hai thím cháu (cu Đăng con bác Ba)

Hai vợ chồng

Bông mai Tứ quý nở đúng sáng mồng Một

Ảnh chụp ở quê bằng máy KTS: Tứ đại đồng đường

Ông Nội cùng ngũ hổ: Ngạn - Đăng - Khải - Uy - Lương

Hai anh em: bác Tám - Trần Bùi Thao, nguyên chánh chủ tự Trần tộc đại tôn từ đường và Cha

Mời họa Tết Canh Dần

tranhanam 11 February, 2010 12:32 Thơ Đường dẫn cố định Trackbacks (0)
mãnh hổ
Thơ Năm Cọp

Canh Dần xuân mới vẻ thanh tân
Ông
Cọp khoan thai ngự xuống trần
Tỳ
hổ tung hoành trừ giặc nước
Sơn quân sức vóc trợ lương dân
Hùm oai nuốt sống quân tham nhũng
Kễnh mạnh ăn tươi lũ bất nhân
Khẳng
khái giữa đời không hổ thẹn
Sơn lâm chúa tể rạng uy thần!

Kỉ niệm 20 năm khóa 9

tranhanam 06 February, 2010 00:12 Bạn bè Đường dẫn cố định Trackbacks (0)
Hôm nay mở mail, tình cờ nhận được lá thư cùng lời hỏi thăm của bạn Minh khóa 9. Cũng đã 20 năm tốt nghiệp Đại học rồi. Năm nay không biết có tổ chức được gặp mặt anh  chị em khóa mình không? Năm chẵn gặp ở Quy Nhơn là hay nhất, còn nếu có thời gian thì đi vi vu đâu đó! Bà con mình cùng vào coi lại gương mặt mình 20 năm trước nhé! Cảm ơn bạn Minh đã chụp lại tấm hình. Ngày đó ai cũng còn trẻ trung tràn trề sức sống và đam mê văn chương nhỉ? Cả thầy Mạnh cũng trẻ và vui khi chụp với sinh viên khóa 9 tụi mình!


Bình giảng ĐẤT QUÊ TA MÊNH MÔNG

tranhanam 30 January, 2010 23:34 Bài viết Đường dẫn cố định Trackbacks (0)

Bình giảng bài thơ ĐẤT QUÊ TA MÊNH MÔNG (Dương Hương Ly)

Những năm tháng hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ đã qua lâu. Nhưng những dấu ấn của thời đại ấy vẫn ghi lại đầy đủ trong tâm trí bao lớp người. Chất thơ của một thời hùng vĩ, cao cả dường như kết tinh trong hình tượng người mẹ, để cho các nhà thơ, nhạc sĩ ngợi ca. Có một bài thơ đã ra đời trong những ngày tháng ấy,được phổ nhạc để vút lên âm điệu đầy xúc động về người mẹ: Đất quê ta mênh mông của Dương Hương Ly. Cái hay của bài thơ chính là ở tình cảm xúc động và giản dị.

Không phải ngẫu nhiên khi nhan đề bài thơ là "Đất quê ta mênh mông" nhưng hình tượng xuyên suốt bài thơ lại là Bà mẹ đào hầm. Nhà thơ có sự liên tưởng từ thực tế công việc của mẹ nhưng cảm hứng này cũng gắn liền cảm hứng trữ tình công dân của thi ca chống Mỹ. Tố Hữu từng viết:

Việt Nam ôi Tổ quốc thương yêu

Trong khổ đau người đẹp hơn nhiều

Như bà mẹ sớm chiều gánh nặng

Nhẫn nại nuôi con suốt đời im lặng

Dương Hương Lylà nhà thơ - chiến sĩ hoạt động trên chiến trường miền Trung - Tây Nguyên, là người trực tiếp chứng kiến và chịu ơn sự hy sinh lặng thầm của những người mẹ nên có lẽ cảm hứng về Đất nước giàu ấn tượng từ người mẹ cũng là điều dĩ nhiên.Người Mẹ bình thường nhưng vĩ đại đã hiện lên trong những dòng thơ đầy ám ảnh,kết tinh vẻ đẹp của cả một thời đại chống Mỹ.

Bài thơ bắt đầu từ một câu chuyện được kể lại ngắn gọn, giản dị:

Mẹ đào hầm từ thuở tóc còn xanh

Nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc

Mẹ vẫn đào hầm dưới tầm đại bác

Bao đêm rồi tiếng cuốc vọng năm canh

Giản đơn là vậy, việc đào hầm của mẹ! Nhưng có sự bất bình thường ở chỗ nhà thơ xâu chuỗi hai khoảng thời gian "tóc còn xanh" đến khi "phơ phơ đầu bạc". Công việc diễn ra thật âm thầm lặng lẽ, hòa cùng không gian của bóng đêm, bền bỉ miệt màikhông ngừng nghỉ. "Bao đêm rồi...", lời thơ như một câu hỏi vọng lên để nhà thơ bày tỏ lòng kính phục sự kiên trì nhẫn nại của mẹ. Hai âm thanh được diễn tả thật khác nhau: một bên là "đại bác", một bên là "tiếng cuốc vọng năm canh".Hóa ra việc đào hầm ấy không hề đơn giản vì đã đối mặt, thách thức sự hủy diệt của kẻ thù.

"Tiếng cuốc vọng năm canh" là âm vang tấm lòng người mẹ, để những đứa con dưới hầm bí mật và nhà thơ nhận ra một ý nghĩa thật lớn lao:

Đất nước mình hai mươi năm chiến tranh

Tiếng cuốc năm canh nặng tình đất nước

Hầm mẹ giăng như lũy như thành

Che chở mỗi bước chân con bước

Hai mươi năm -đủ để một thế hệ lớn lên, hai mươi năm - cũng là thời gian cả dân tộc phải đốiđầu với sự hủy diệt của kẻ thù để bảo vệ nền độc lập tự do. Có một điều nhà thơ không nói rõ nhưng người đọc có thể nhận ra: đó cũng là thời gian đằng đẵngnhuộm mái tóc xanh của mẹ thành "phơ phơ đầu bạc" - một thời xuân sắc đã điqua. Niềm vui của mẹ, tình yêu đời mẹ nằm trong "tiếng cuốc năm canh" đều đều như nhịp tim thôi thúc. Dương Hương Ly dồn hết tình cảm vào câu thơ ngợi catình mẹ - "nặng tình đất nước". Câu thơ không phải cách so sánh thông thường màchứa đựng niềm cảm phục kính yêu của những đứa con chiến sĩ. Thành quả của mẹ, công sức của mẹ là ở những chiếc hầm bí mật "giăng như lũy như thành". Sức vócmảnh mai của người mẹ "phơ phơ đầu bạc" vụt lớn lao thành sức mạnh Nhân Dân.

Từ niềm vuisứơng, biết ơn của một đứa con được bao bọc, chở che trong tình yêu của mẹ, nhàthơ chợt phát hiện ra một điều tưởng như nghịch lý:

Đất quê ta mênh mông

Quân thù không xăm hết được

Lòng mẹ rộng vô cùng

Đủ giấu cả hàng sư đoàn dưới đất

Nơi hầm tối lại là nơi sáng nhất

Nơi con tìm ra sức mạnh Việt Nam

Như một chân lý giản đơn, khi thế trận của lòng dân "giăng như lũy như thành", kẻ thù phải bó tay, bất lực. Tác giả lại đưa ra một liên tưởng đầy ấn tượng từ "lòng mẹ" đến "lòng đất mẹ". Xưa có câu chuyện mẹ Âu Cơ bọc lũ con trong bọc trăm trứng,nay người mẹ đào hầm bao bọc "cả hàng sư đoàn". Phải chăng tác giả cũng đangnghĩ về một mẹ Âu Cơ của thời đại chống Mỹ? Duy có một điều khác chăng là ngườimẹ ở đây không bước ra từ huyền thoại mà bằng xương bằng thịt, bằng tất cả sựbao dung của tình yêu nước lớn lao. Đó cũng là cơ sở để nhà thơ nhận ra "sức mạnh Việt Nam" từ một nghịch lý "Nơi hầm tối lại là nơi sáng nhất". Sức mạnh của dân tộc tạo nên từ ơn sinh thành của người mẹ, sức mạnh ấy hội tụ cả lòng nhân ái và chủ nghĩa anh hùng. Từ cảm nhận này của Dương Hương Ly, ta chợt nhớ đến một lời ca ngợi của đại văn hào Nga M.Gorki : "Không có Người Mẹ thì cả anh hùng, cả nhà thơ đều không có. Sức mạnh Việt Nam - dân tộc anh hùng và nghệ sĩ- đã bắt nguồn từ người mẹ bình thường mà vô cùng vĩ đại, có lẽ đó là đều nhà thơ phát hiện được từ công việc âm thầm của mẹ.

Cuộc sinh nởnào mà chẳng đớn đau! Nhưng nỗi đau của mẹ lại gắn với những trận đòn thù của bầy giặc Mỹ điên cuồng, hèn hạ và bất lực. Có thể tác giả đã hơi tham lam khi đưa thêm vào chi tiết để tố cáo tội ác của kẻ thù cũng như để ngợi ca ý chí kiên cường của mẹ. Không một người mẹ bình thường nào lại không sẵn sàng chịu đau vì những đứa con mình. Sự lặng yên của mẹ là cái lặng im của đất. Ta có thể nhận ra ở đây nỗi đau đớn xót xa của những đứa con chiến sĩ cũng như quyện chặt vào cùng đất mẹ, như chờ phút bùng lên rửa hận. Còn mẹ thì vẫn thế:

Trên mình mẹ mang nhiều thương tật

Tóc mẹ bạc rồi lại bạc thêm

Nhưng đêm đêm

Tiếng nhát cuốc vẫn xóay vào ruột đất

Trong tiếng cuốc của mẹ, có cả nỗi đau xoáy ruột của cả những đứa con. Tiếng cuốc như thôi thúc, như giục giã lòng con quyết sống mái với kẻ thù.

Để rồi sức mạnh của mẹ truyền cả cho những đứa con:

Có những đoàn quân từ lòng đất xông lên

Quân thù bạt vía

Xung quanh chúng đâu cũng là trận địa

Đất quê ta mênh mông

Lòng mẹ rộng vô cùng

"Diệt Mỹ là cao cả của tình yêu", chỉ có chiến đấu tiêu diệt kẻ thù mới là sự đáp lại đầy đủ nhất tình mẹ dành cho những người chiến sĩ. Sự che chở âm thầm, sự hy sinhlớn lao của mẹ dành cho những đứa con dưới hầm bí mật đã góp thêm sức mạnh khiến "quân thù bạt vía". Một lần nữa điệp khúc "Đất quê ta mênh mông - Lòng mẹ rộng vô cùng" lại cất lên như một vĩ thanh để người đọc nhận ra ý nghĩa cao cả của cuộc chiến đấu chống Mỹ, vì Đất quê ta, vì Mẹ, vì những tình cảm lớn lao.Và một lần nữa, vóc dáng của Mẹ đã lớn mênh mông ngang tầm Đất Nước.

"Đất quê ta mênh mông" của Dương Hương Ly chỉ là một cảm nhận rất riêng của nhà thơ về sứcmạnh vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thời đại chống Mỹ qua hình tượng Người Mẹ đào hầm. Nhưng hình tượng bất tử của Mẹ đã vượt qua thời gian để lưu lại mãitrong những lời ca dạt dào về mẹ. Đó cũng là nguồn cảm hứng về một thời đại giàu chất sử thi mà sau này một lần nữa ta còn gặp trong lời ca về mẹ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn "Mẹ về đứng dưới mưa, che từng căn hầm nhỏ...". Hình tượng người mẹ - đất nước trong thời đại chống Mỹ sẽ mãi còn là nguồn cảm hứng nghệ thuật bất tận.

Hiểu bài thơ để chúng ta hiểu hơn về một thời đại hào hùng của dân tộc. Ta cũng hiểu tấm lòng rất đẹp của một nhà thơ - chiến sĩ dành cho mẹ, cho Tổ quốc. Từ tình yêu của mẹ, ta hiểu vì sao đất nước đối với ta lớn lao nhưng gần gũi thân thương vôcùng.

Giờ đây, mỗi khi giai điệu bài ca về người mẹ đào hầm vang lên trên sóng phát thanh, đài truyền hình, vang lên đâu đó giữa đời thường bộn bề toan lo hối hả, hình ảnh mẹ "phơ phơ đầu bạc" trong bài thơ Dương Hương Ly lại hiện lên lồng lộng trong tâm trí, như một lời nhắc nhớ mỗi chúng ta...

                                    Qui Nhơn, 2006 - 2010

                                                T.H.N

 


Ngẫu hứng online

tranhanam 30 January, 2010 21:54 Thơ Đường dẫn cố định Trackbacks (0)

Chưa sang năm mới, hoa đã ngập tràn
Cây mai tứ quý đã mừng xuân sang
Một năm mỏi mệt, một năm làng nhàng
Giữa đời lãng đãng, còn nhiều hoang mang


Có lúc giật mình soi gương tóc bạc
Nhiều khi muốn hát, nhiều khi lang thang
Ô kìa nắng lạ, tiếng chim ríu ran
Ta tin ngày mới, không uổng thời gian...


THỜI ĐẤT NƯỚC GIAN LAO

tranhanam 10 January, 2010 11:02 Tác phẩm hay Đường dẫn cố định Trackbacks (0)
NGUYỄN VIỆT CHIẾN

Chúng đã ngủ cả rồi
những con hươu bị bóng đêm săn đuổi
chúng đang gác cặp sừng lên vầng trăng cuối tháng
rồi nằm mơ về một cánh rừng
không có thuốc đạn và súng săn

Họ đã ngủ cả rồi
những người lính bị chiến tranh săn đuổi
họ nằm mơ gặp lại bầy hươu
gác sừng lên người bạn vô danh
trên cánh rừng đã chết

Chỉ còn lại vầng trăng và giấc ngủ
chỉ còn lại dấu vết cuối cùng của bầy hươu bị săn đuổi
chỉ còn lại câu thơ thầm lặng
về những người đã ra đi

chỉ còn lại những gì không còn lại
bởi người đau đớn nhất sau chiến tranh
không ai khác ngoài mẹ của chúng ta
những đứa con không trở về
hòa bình dưới mưa phùn
được đắp bằng cỏ non và nước mắt

*
*   *

Đêm đêm
những người con ngỡ đã đi thật xa
đang lặng lẽ trở về
họ lẫn vào gió vào sương đêm
không cần an ủi
họ chẳng ồn ào như lời ca sôi sục ngày ra đi

họ còn nguyên tuổi trẻ
những người lính chưa tiêu phí một xu mơ ước
chưa tiêu hoài một đồng thanh xuân

họ trở về tìm lại
trang sách học trò đêm đêm còn thao thức
trên cánh đồng tiếng Việt ngàn năm

Mẹ lại thấy chúng con về
như cánh cò tuổi thơ lưu lạc
đã bao ngày phải xa rời thôn ổ yêu thương
chúng con trở về tìm lại
giọt nước mắt xót xa và đắng cay của mẹ

một bên là núi sông ngăn cách
còn bên kia là bóng đêm chiến tranh
vẫn biết đạn bom không có mắt
vẫn biết hận thù không thể phân biệt nổi
đâu là hoa sen và đâu là bùn tối
nhưng các anh vẫn phải ra đi

các anh phải ra đi
lời ru chùa Tây Phương
những La Hán mặt buồn
người thợ mộc xứ Đoài
lấy thân xác hom hem của mình làm mẫu vẽ
ba mươi sáu dẻo xương sườn
réo rắt tấu lên bản đàn tam thập lục
người gẩy đàn thì đau đớn
mà bản nhạc viết cho đàn lại reo vui

*
*   *

Mẹ đã sống dưới mưa phùn ảm đạm
những ngày dài nghèo đói quắt quay
Mẹ thiếu sữa sinh đứa con thiếu tháng
Tổ quốc xanh xao Tổ quốc hao gầy

Mẹ có mặt trong dòng người nhẫn nại
lặng lẽ xếp hàng từ mờ sớm tới đêm hôm
Mẹ lần hồi thời cơm tem gạo phiếu
nuôi lớn những người con
rồi gửi tới chiến trường

Mẹ đã khóc lúc rời ga Hàng Cỏ
những đoàn tầu hun hút tuổi hai mươi
một thế hệ hồn nhiên không biết chết
chưa từng yêu khi gục ngã cuối trời

Mẹ ở lại với sông Hồng tần tảo
áo phù sa lam lũ tháng ngày
câu quan họ cất trong bồ thóc cũ
sông Cầu trôi như một tiếng thở dài...

*
*   *

Tàu xuyên đêm
tiếng gió xé bánh xe lăn quần quật
đêm nay họ trở lại một thời gian lao
đường vào Nam hun hút những chuyến tầu
máu rất đỏ tuổi hai mươi nằm lại
câu hát bảo:
tuổi hai mươi những người đi trẻ mãi
câu thơ bảo:
đất nước hình cánh võng mẹ ru ta

và ở hai đầu đêm võng mắc dọc rừng già
trăng cũng sốt rét rừng như ta sốt
trăng mất máu như bạn ta thủa trước
dọc cánh rừng na-pan

sông Thạch Hãn
nước mùa này còn ấm
và các anh trong suốt
những người hy sinh thời gian lao

mây Quảng Trị
mùa này vẫn một màu huệ trắng
trên Cổ Thành
như ngày các anh ngã xuống
những người hy sinh thời gian lao

Và mưa gió Trường Sơn
mùa này vẫn tắm gội
những người con nằm lại
thời đất nước gian lao

những cánh rừng cuối thu ngủ dưới mưa phùn
đất nước tôi những người nằm trong đất
chất phác như bùn hồn nhiên như cỏ
buồn đau không còn thở than

những ngọn sóng đất đai lưu giữ mọi thăng trầm
người chép sử ngàn năm là bùn đất
kiên trì và nhẫn nại
máu của người là mực viết thời gian. 
----------------------
MỘT BÀI THƠ THẬT HAY VÀ THẤM THÍA! (T.H.N)

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16  Sau»
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16  Sau»

Powered by Vnweblogs
© 2007 - Design by Omar Romero (all rights reserved)